Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu

03/07/2013

GS.TS LÝ TOÀN THẮNG

 

NHẬP ĐỀ

Đây là một số ghi chép của tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu về Từ điển học, kể từ khi tôi được phân công về làm việc ở Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam (8-2008).

Năm 1969, sau khi tốt nghiệp Khoa Ngữ văn, Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, tôi về làm việc ở Viện Ngôn ngữ học, được phân công về đúng Ban Từ điển (cùng với anh Mai Như Thước – bạn cùng lớp với tôi). Hồi đó, về Ban Từ điển làm việc là chuyện rất bình thường vì gần như cả Viện lúc ấy đang tập trung cho công trình nhà nước về Từ điển tiếng Việt (do cố GS Hoàng Phê chủ biên). Tôi làm ở đó được 2 năm, chủ yếu là “điếu đóm”, “học nghề” với các bậc đàn anh ở Viện, như Hoàng Văn Hành, Bùi Khắc Việt, Vương Lộc, Nguyễn Văn Thạc, Đào Thản,… Nhờ 2 năm ấy, tuy không phải là dài, tôi cũng đã học được ít nhiều về những công việc mà mọi người khi đó hay gọi là “bếp núc” của từ điển.

Về sau, khoảng năm 1971, tôi được cố PGS Nguyễn Kim Thản (khi đó phụ trách Viện) điều chuyển sang Ban Ngữ pháp, học tập và làm việc với các vị đàn anh đàn chị khác, như Hồ Lê, Lê Xuân Thại, Trần Chút, Võ Huỳnh Mai... Tôi nhớ là ai cũng coi đó là một sự may mắn cực kì cho tôi, bởi vì mọi người đều biết làm từ điển là một công việc rất khó khăn, cực nhọc và chịu nhiều thiệt thòi về phương diện học tập và nghiên cứu hơn những Ban khác (do sự thúc bách hàng ngày của tiến độ biên soạn). Thời kì ấy ở Ban Ngữ pháp có lúc tôi cũng được quay lại với công việc từ điển, đó là khi tôi và anh Trần Chút được giao sơ thảo định nghĩa một số hư từ (liên từ, giới, trợ từ,…) thường gặp.

Tôi kể lại một vài hồi ức như trên, để muốn nói rằng tôi cũng từng có “duyên nợ” với từ điển, nhưng chưa bao giờ có được vinh dự là một “nhà từ điển học” (mà bây giờ mới thấy hết sự công phu của nghề này). Chính vì thế khi nhận quyết định về làm việc ở Viện TĐH & BKT VN, điều suy nghĩ đầu tiên đến với tôi là: “Mình lại phải tu học lại từ đầu về từ điển học rồi!”

Với tâm niệm đó, thời gian vừa qua, tôi đã cố gắng đọc một số sách báo trong và ngoài nước, ghi chép lại một số điều mà tôi thấy là cần, là hay, cho công việc học tập và nghiên cứu của mình về từ điển và từ điển học. Rất may là lại đúng vào dịp ở Viện TĐH & BKT VN đang có những đề tài nghiên cứu khoa học cần đến một số bài viết chuyên đề. Nhờ vậy mà tôi có điều kiện viết thành một số chuyên luận “nho nhỏ” về Từ điển học và từ đó có thể chuyển thành các bài báo (một số đã công bố, về Từ điển học ở LB Nga), nhằm giới thiệu với bạn đọc rộng rãi cuả Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư.

Tôi nghĩ là những chuyên luận đó của tôi – mặc dù có thể còn sơ sài và đôi chỗ có thể còn chủ quan - nhưng chắc là ít nhiều cũng có ích cho các bạn đồng nghiệp trong ngành. Mở đầu năm 2011, tôi lại muốn tiếp tục được công bố một số “chuyên luận nhỏ trong một vấn đề rộng lớn” này. Và xin mượn lời “thơ văn xuôi” của một người bạn thân, để kết thúc:

Biển học một chuyên ngành thôi, như Từ điển học, đã quá mông mênh!

Càng đọc nhiều, càng thấy không bao giờ biết đến đâu là đủ!…

BÀI THỨ NHẤT

XUNG QUANH KHÁI NIỆM “TỪ  ĐIỂN HỌC”

Ở Việt Nam, trên cơ sở những thành công của công tác biên soạn từ điển tiếng Việt những năm 1975-1995, đặc biệt với sự ra đời của cuôn Từ điển tiếng Việt năm 1988, đã có rất nhiều bài viết đề cập đến các khía cạnh khác nhau của công việc biên soạn từ điển, như: cách xây dựng bảng từ, lời định nghĩa, cách đưa thí dụ, cách chú giải về từ loại, về phong cách, về từ ngữ địa phương,…

Tuy nhiên, những nghiên cứu về từ điển ở Việt Nam nói chung thường có mục đích rất thực tiễn là hướng đến giải quyết những vấn đề cụ thể trong công tác biên soạn từ điển và chủ yếu là được các nhà biên soạn từ điển tổng kết lại từ kinh nghiệm của bản thân mình. Điều này, một mặt, tuy rất thiết thực và hữu ích, nhưng mặt khác không khỏi có phần bị hạn chế (trước hết là bởi khả năng tham khảo sách vở hữu hạn ở Việt Nam) trong việc nhìn rộng ra những lí thuyết về từ điển học hiện đại trên thế giới.

Ta hãy thử nhớ lại.

Năm 1993 - năm mà hai tác giả Hoàng Phê và Nguyễn Ngọc Trâm công bố bài báo mang tính lí luận nổi tiếng: Một số vấn đề từ điển học (qua việc biên soạn cuốn từ điển tiếng Việt). Lần đầu tiên hai tác giả này chính thức nói đến “từ điển học” với những vấn đề khoa học của nó, và đi đến nhận định rằng (những chỗ in đậm là của chúng tôi - LTT):

- “Cho đến nay chúng ta chưa xây dựng được một giáo trình từ điển học và cũng chưa tổng kết kinh nghiệm công tác từ điển ở nước ta” (1993)

- “Từ điển học ở Việt Nam “ra đời rất muộn, thậm chí có thể nói rằng nó chưa thật sự hình thành, mặc dầu chúng ta cũng đã có những nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn nhất định” (1993)

Ba năm sau, 1997 - năm xuất bản công trình tập thể Một số vấn đề từ điển học (của các nhà nghiên cứu Từ điển - ngữ nghĩa thuộc Viện Ngôn ngữ học), là tập sách đầu tiên bàn về Từ điển học ở Việt Nam, có thể được coi như một “dấu mốc”, một “bước ngoặt” của lí thuyết Từ điển học ở nước ta. Trong công trình này, ở Lời mở đầu, các tác giả cũng có những nhận định tương tự:

- “Nhưng từ điển học Việt Nam chỉ mới hình thành. Chúng ta có một số nghiên cứu và kinh nghiệm được công bố rải rác, song vẫn thiếu một công trình từ điển học thực sự” (1997)

- “Tập bài “Một số vấn đề từ điển học” là một cố gắng nhằm đáp ứng nhu cầu này (…) Nhưng hạn chế của cuốn sách này là chưa trình bày được đầy đủ, toàn diện những vấn đề cơ bản của từ điển học. Chúng tôi mới chỉ khảo sát những những vấn đề thuộc từ điển ngôn ngữ, mà trong từ điển ngôn ngữ lại chú mục vào từ điển giải thích” (1997)

Sau 1997, đáng chú ý nhất là cuốn sách “Kiểm kê từ điển học Việt Nam” của Vũ Quang Hào (2005), tập bài giảng chuyên đề Sau đại học về “Từ điển học” của Phạm Hùng Việt (từ năm 1999 - đáng tiếc là những bài giảng này chưa được xuất bản chính thức), và một số bài viết chuyên đề về từ điển học của Nguyễn Văn Thạc (2004), Chu Bích Thu (2005), Hồ Hải Thuỵ (2004, 2005, 2009), Nguyễn Ngọc Trâm (2003), v.v.

Tuy nhiên, có thể thấy rằng, vì những lí do khác nhau, nhìn chung, các tác giả nói trên dường như chưa có ý định phác ra, một cách đầy đủ và toàn diện, một toàn cảnh chân dung về cái gọi là “từ điển học” (лексикогрaфия, lexicography).

Vậy thì cái “nhân vật” được gọi là “từ điển học” ấy mặt mũi, dáng vóc, tính cách và câu chuyện của nó ra sao?

Thoáng nhìn hay thoáng nghe qua, quả thật là rất dễ nghĩ rằng hình như chẳng có gì phức tạp ở đây cả. “Từ điển học” đại khái nếu chiết tự ra mà suy ý, thì chỉ có nghĩa là “ngành học về từ điển”, nghĩa là chuyên nghiên cứu về các từ điển!

Thế nhưng, sự thực hoàn toàn không đơn giản như vậy.

Dưới đây là một vài ghi chép của tôi.

Theo cuốn Dictionary of Lexicography (Từ điển về Từ điển học), của Hartmann và James, xuất bản trong các năm 1998, 2002) thì Từ điển học không chỉ liên quan đến từ điển (dictionary/wordbook) như là cái cốt lõi nhất, mà còn liên quan đến cả các công trình tra cứu khác (other reference works).

Trong Từ điển học thường thấy chia ra hai mảng (division) sau:

(i) Lí luận từ điển học (lexicographic theory) hay nghiên cứu về từ điển (dictionary research); và các nhà nghiên cứu về từ điển học được tụng danh là “academic lexicographers”, hay “metalexicographers”;

(ii) Thực hành từ điển học (lexicographic practice) hay làm ra/biên soạn ra từ điển (dictionary-making); và các nhà biên soạn từ điển thì được gọi giản dị hơn là “dictionary-makers’ hay “dictionary-compilers”.

Thậm chí có những tác giả còn phân biệt giữa:

(i) Nghiên cứu về từ điển (dictionary research); đáng chú ý là: thời gian gần đây, do sự phát triển mạnh mẽ của cái gọi là “khoa học tra cứu” (reference science) - nhất là sự tiến bộ về công nghệ điện tử và thể thức (formats) của các tài liệu tra cứu - nên công việc “nghiên cứu về từ điển” đang được hết sức quan tâm;

(ii) Nghiên cứu về từ điển học (lexicography research); một số tác giả còn dùng thuật ngữ “siêu-từ điển học” (meta-lexicography) để nói riêng về “sự nghiên cứu từ điển học” này.

Tuy nhiên, cần thấy rằng: Ngày nay, ranh giới giữa hai mảng việc “biên soạn” và “nghiên cứu” của từ điển học - cũng như quan hệ giữa người làm từ điển và người nghiên cứu về từ điển học - đang thay đổi, không còn quá phân cách như trước. Người ta đang có xu hướng bắc cầu kết nối họ lại với nhau. Chứng cớ là có nhiều hội có tôn chỉ, mục đích chung cả về từ điển và từ điển học đã ra đời:

- DSNA (the Dictionary Society of North America - Hội Từ điển Bắc Mĩ, ra đời năm 1975); LSI (the Lexicographical Society of India - Hội Từ điển học Ấn Độ, ra đời năm 1975);

- EURALEX (the European Association for Lexicography - Hội Từ điển học Âu Châu, ra đời năm 1983);

- AUSTRALEX (the Australasian Association for Lexicography - Hội Từ điển học Cựu thế giới, ra đời năm 1990);

- LSC (the Lexicographical Society of China - Hội Từ điển học Trung Quốc, ra đời năm 1992);

- AFRILEX (the African Association for Lexicography - Hội Từ điển học châu Phi, ra đời năm 1995);

- ASIALEX (the Asian Association for Lexicography - Hội Từ điển học châu Á, ra đời năm 1997);

- v.v.

Và đã có nhiều hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế, rất nổi tiếng, được tổ chức với sự hiện diện và tham gia đồng thời của cả hai giới - người làm từ điển và người nghiên cứu từ điển học...

Từng có một thời, thật là tiếc, đó đây có những ý văn trong sách vở hay bài viết cho thấy tác giả của nó không hay biết rằng họ hầu như không hiểu gì mấy về từ điển học.

Trong khi đó thì…

Từ điển học là một ngành khoa học thực thụ, gồm khoảng 30 phân ngành (branches), mỗi phân ngành này lại chia nhỏ hơn thành hai bộ phận - “lý thuyết” và “thực hành”. Cụ thể là, theo một số học giả, nó gồm những phân ngành như:

- Từ điển học đơn ngữ

- Từ điển học song ngữ

- Từ điển học đa ngữ (multilingual)

- Từ điển học biểu ý (thesaurus)

- Từ điển học định danh (onomasiological)

- Từ điển học danh xưng (onomastic)

- Từ điển học cách sử dụng (usage)

- Từ điển học bách khoa (encyclopedic)

- Từ điển học chuyên dụng (specialised)

- Từ điển học các ngôn ngữ dùng cho các mục đích chuyên biệt (LSP = Languages for Special Purposes)

- Từ điển học thuật ngữ (terminological)

- Từ điển học các văn bản đặc thù (text-specific)

- Từ điển học kĩ thuật (technical)

- Từ điển học phương ngữ

- Từ điển học vùng (regional)

- Từ điển học từ nguyên

- Từ điển học lịch sử

- Từ điển học giai đoạn (period)

- Từ điển học tiếng lóng (slang)

- Từ điển học tần số

- Từ điển học điện toán (computational)

- Từ điển học văn hoá

- Từ điển học âm nhạc

- Từ điển học vần điệu (rhyme)

- Từ điển học sư phạm

- Từ điển học luật pháp (legal)

- Từ điển học y khoa (medical)

- Từ điển học tác giả

 Có người còn nói đến một số sự phân biệt quan trọng khác như:

- Từ điển học đại cương (general)

- Từ điển học so sánh (comparative)

- Từ điển học quy tắc (prescriptive)

- Từ điển học lí thuyết (metalexicography)

- Lí thuyết về từ điển học (theory of lexicography)

 Bên cạnh sự phân ngành như trên, người ta còn nghĩ đến việc xây dựng các Giáo trình về từ điển học. Một giáo trình về lí thuyết từ điển học chẳng hạn, theo ý kiến của В. В. Дубичинский trong cuốn Лексикогрaфия русского языка (Từ điển học tiếng Nga, in năm 2009), có thể gồm khoảng 9 chương mục lớn (mỗi chương mục này lại bao gồm nhiều tiểu mục). Cụ thể như sau:

1. Từ điển học và xã hội

1.1. Từ điển học và xã hội

1.2. Từ điển học và người sử dụng từ điển

2. Lịch sử từ điển học

2.1. Lịch sử từ điển học

2. 2. Lịch sử các cuốn từ điển

3. Lí thuyết đại cương về từ điển học

3.1. Vị thế hiện thời của từ điển học và mối quan hệ của nó với các chuyên ngành ngôn ngữ học khác

3.2. Siêu ngôn ngữ dùng trong từ điển học

3.3. Từ điển ngôn ngữ / bách khoa thư / từ điển bách khoa

3.4. Hình thức của từ điển

4. Từ điển học về các ngôn ngữ cụ thể

5. Từ điển học các ngôn ngữ phụ trợ và các hệ thống giao tiếp khác

5.1. Từ điển các ngôn ngữ nhân tạo

5.2. Từ điển ngôn ngữ tốc kí

5.3. Từ điển dành cho người câm điếc

5.4. Từ điển các biểu tượng, kí hiệu, tín hiệu quy ước

6. Từ điển học đơn ngữ

6.1. Cấu trúc vĩ mô của từ điển đơn ngữ

6.2. Cấu trúc vi mô (các thành tố của mục từ) của từ điển đơn ngữ

6.3. Các kiểu loại từ điển đơn ngữ

6.4. Các dạng từ điển cụ thể

7. Từ điển học đối dịch (song ngữ và đa ngữ)

7.1. Ngôn ngữ học đối chiếu và từ điển học đối dịch

7.2. Lí thuyết phiên dịch và từ điển học đối dịch

7.3. Đặc điểm cấu trúc vĩ mô của các từ điển đối dịch

7.4. Đặc điểm cấu trúc vi mô của các từ điển đối dịch

7.5. Các kiểu loại từ điển đối dịch

7.6. Tính tương đương của các đơn vị từ điển đối dịch

8. Từ điển học thuật ngữ

8.1. Những vấn đề và chức năng cơ bản của từ điển học thuật ngữ

8.2. Từ điển học miêu tả / quy chuẩn các thuật ngữ

8.3. Yêu cầu đối với các từ điển thuật ngữ

8.4. Các kiểu loại từ điển thuật ngữ

8.5. Cơ cấu thành phần của các từ điển thuật ngữ

8.6. Nguyên lí sắp xếp ngữ liệu trong từ điển thuật ngữ

8.7. Định nghĩa trong từ điển thuật ngữ

9. Quá trình chế tác ra từ điển

9.1. Vi tính hoá các hoạt động biên soạn từ điển

9.2. Các giai đoạn biên soạn từ điển

9.3. In ấn từ điển

Còn một câu chuyện khác, cũng nên đề cập đến ở đây: Từ điển học có vị trí và quan hệ như thế nào với ngôn ngữ học?

Nếu tổng kết lại, có thể nêu ra mấy quan niệm khác nhau như sau:

a) Nếu việc biên soạn từ điển (dictionary-making) thường được cho là liên quan với xuất bản (publishing), thì lí luận từ điển học (lexicographic theory) thường được coi là có quan hệ với một số bộ môn của ngôn ngữ học – đặc biệt là từ vựng học (lexicology) và có những tác giả thậm chí cho rằng từ điển học chỉ là một bộ phận của từ vựng học;

b) Vì từ điển học có mảng ứng dụng là biên soạn từ điển hay thực hành từ điển học (lexicographic practice),nên nó cũng được xem là có quan hệ với phân ngành ngôn ngữ học ứng dụng (applied linguistics), và do đó có những tác giả cho rằng từ điển học là một bộ phận của ngôn ngữ học ứng dụng;

c) Vì trong các mục từ của từ điển (cấu trúc vi mô) không chỉ có thông tin về mặt từ vựng, mà còn có cả những thông tin về các mặt ngữ âm, ngữ pháp , ngữ dụng, tu từ…, tức là từ điển học không phải chỉ quan hệ với riêng một mình từ vựng học mà còn với nhiều bộ môn khác trong ngôn ngữ học; cho nên có những tác giả cho rằng từ điển học là một bộ môn/phân ngành độc lập của ngôn ngữ học, ngang hàng với từ vựng học và các bộ môn khác trong ngôn ngữ học;

d) Vì trong từ điển không chỉ có những tri thức liên quan đến ngôn ngữ học, mà còn có rất nhiều những tri thức loại khác vốn có tác dụng to lớn đối với sự nghiệp văn hoá - giáo dục và nâng cao dân trí của một đất nước, nghĩa là vượt ra khỏi phạm vi của ngôn ngữ học; cho nên có những tác giả cho rằng từ điển học là một ngành học (cao hơn từ vựng học) - ngang hàng với ngôn ngữ học và các ngành khoa học xã hội và nhân văn khác.

Hãy tưởng tượng rằng, giả sử như ta đem tập hợp tất cả các kiểu loại từ điển của một ngôn ngữ nào đó (như tiếng Việt chẳng hạn) lại thành một bộ từ điển duy nhất, thì cái “tập đại thành” đồ sộ ấy sẽ cấp cho ta một bức tranh toàn cảnh không phải chỉ về hệ thống ngôn ngữ đó mà còn về nhiều lĩnh vực tri thức khác nữa (được tàng chứa trong ngôn ngữ đó). Trong một cảnh giới như thế, như một số học giả người Nga đã viết, ta hoàn toàn có thể nói đến từ điển học như là cái “mắt xích nối tất cả các khoa học”, cái “tích hợp các khoa học”, thậm chí như là “khoa học của các khoa học” (như người ta thường nói, với một ý nghĩa khác, về triết học). Nghĩa là từ điển học không phải là một “chú tí hon” như ta quen nghĩ, mà thực ra đó là một “người khổng lồ”!

Hiện nay, đáng chú ý là ý kiến chung của khá nhiều học giả có uy tín khẳng định một điều: Không nên hiểu sai về Từ điển học như là một phân ngành (branch) của Ngôn ngữ học. Bởi lẽ từ điển học là một lĩnh vực duy nhất mà ở đó tích hợp những hiểu biết về lí thuyết và thực hành của nhiều ngành khác (như văn học, triết học, tin học, xuất bản,…) và của nhiều phân ngành trong ngôn ngữ học (như ngôn ngữ học lịch sử, ngôn ngữ học so sánh, ngôn ngữ học ứng dụng, v.v.).

Giống như một hộ gia đình đối với nhà đất của họ, các nhà từ điển học cần phải xác định được lãnh địa rộng lớn này của mình và phát huy nó trong mối quan hệ với “anh em họ hàng”, “hàng xóm láng giềng”. Theo một số học giả thì một số ngành học “anh em” thân thiết với từ điển học là: từ vựng học, thuật ngữ học, công nghệ thông tin, nghiên cứu về truyền thông đại chúng, lí thuyết phiên dịch, lí thuyết dạy tiếng, thư viện học, thư mục học, và chỉ dẫn học (indexing). Còn các ngành học “hàng xóm” liền kề với từ điển học là: lịch sử, giáo dục học và nhân học…

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

1. Tiếng Việt

[1] Vũ Quang Hào 2005, Kiểm kê Từ điển học Việt Nam, Hà Nội.

[2] Nhiều tác giả 1997, Một số vấn đề về từ điển học, Hà Nội.

[3] Hoàng Phê & Nguyễn Ngọc Trâm 1993, Một số vấn đề về từ điển học, Ngôn ngữ, s. 4.

[4] Hoàng Phê 1969, Về việc biên soạn một cuốn từ điển tiếng Việt phổ thông, Ngôn ngữ, s. 2.

[5] Nguyễn Văn Thạc 2005, Tiếp xúc học và Từ điển học, Ngôn ngữ, s. 4.

[6] Lý Toàn Thắng 2009-2010, Từ điển học hệ thống: Một thành tựu của ngôn ngữ học Nga và Xô viết, Từ điển học & Bách khoa thư; các số: 1+2-2009; 1+2+3+5-2010.

[7] Chu Bích Thu 2001, Giới thiệu sơ lược về từ điển và từ điển học Việt Nam, Ngôn ngữ, s. 14.

[8] Chu Bích Thu 2005, Từ điển và từ điển học Việt Nam, Trong cuốn “Lược sử Việt ngữ học”, t. 1 (Nguyễn Thiện Giáp chủ biên), Hà Nội.

[9] Hồ Hải Thuỵ 2004-2005, Suy nghĩ lại về nghề làm từ điển, Ngôn ngữ & Đời sống, các số: 12-2004, 1+2-2005.

[10] Hồ Hải Thuỵ 2009, Từ điển và Từ điển học ngày nay, Từ điển học & Bách khoa thư, s. 2.

[11] Nguyễn Ngọc Trâm 2003, Về cấu trúc vĩ mô của Từ điển tiếng Việt cỡ lớn, Ngôn ngữ, s. 8.

2. Tiếng Nga

[1] Aпресян Ю. Д. 1995, Избранные труды, T. 2, Интергральное описание языка и системная лексикогрaфия, Moсква.

[2] Aпресян Ю. Д. 2006 (отвест. ред.), Языковая картина мира и системная лексикогрaфия, Moсква.

[3] Bерков В. П. 1996, Двуязычная лексикогрaфия, Санкт Петербург.

[4] Гак В. Г. 1990, Лексикогрфия // Лингвистический энциклопедический словарь, Moсква.

[5] Дубичинский В. В. 2009, Лексикография русского языка, Москва.

3. Tiếng Anh

[1] Jackson H. 2002, Lexicography: An Introduction, Routledge - Lon don - New York.

[2] Hartmann R. R. K. &James G. 2002, Dictionary of Lexicography. Routledge - Lon don - New York.

[3] Stanley E. G. 1994, Lexicography, In “The encyclopedia of language and linguistics”, volume 4. Pergamon Press.

[4] Piet van Sterkenburg (ed.). 2003, A Pratical Guide to Lexicography, John Benjamins – The Netherlands.

[5] Zgusta, Barnhart, Malkiel,… 1980, Theory and Method in Lexicography: Western and Non-Western Perspectives, Columbia-South Caroline.

4. Tiếng Pháp

[1] Dubois J., Dubois C. 1971, Introduction à la lexicographie: Le dictionnaire, Paris.

[2] Rey-Debove J. 1971, Étude linguistique et sémiotique des dictionnaires francais contemporains, Paris.

SUMMARY

Lexicography in Vietnam, though having recorded several achievements, is still in its first steps of development and is chiefly empirical. Lexicography needs to be taken as a science serving as a “link among different branches of science ”. It is the only area where different sciences are integrated. This is the first of a series of articles by the author aimed at exploring, discovering, and presenting the achievements of lexicographies in the world, Soviet Russian lexicography among them.


Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 01, năm 2011