Đôi nét về Từ điển song ngữ Hán Việt qua khảo cứu Đại Nam quốc ngữ của Nguyễn Văn San

03/07/2013

TS. LÃ MINH HẰNG

 

Mở đầu

Việt Nam, Hàn Quốc và Nhật Bản đều đã chịu ảnh hưởng sâu nặng của văn hoá Hán. Tuy thời điểm du nhập chữ Hán và văn hoá Hán ở từng nước có khác nhau, nhưng đều có chung một trình tự là, bước đầu là việc học chữ Hán thông qua các văn bản Nho giáo, dần dần tiến tới sử dụng chữ Hán trong sáng tác thi ca, trong thi cử, trong các hoạt động hành chính... Ở cả ba nước đều có hiện tượng sáng tạo văn tự riêng cho dân tộc mình (dựa trên chất liệu là chữ Hán và bộ thủ chữ Hán). Để có thể thúc đẩy nhanh và có hiệu quả quá trình tiếp nhận và sử dụng chữ Hán, các nước trong khu vực đều đã biên soạn cho riêng mình một khối lượng không nhỏ các bộ từ điển song ngữ. Trong lần khảo cứu này, chúng tôi sẽ tập trung giới thiệu Đại Nam quốc ngữ - bộ từ điển song ngữ tiêu biểu của Việt Nam thế kỉ 19.

1. Đại Nam quốc ngữ - nhìn từ trong hệ thống từ điển song ngữ

1.1. Trong quá trình tiếp nhận và sử dụng chữ Hán, người Việt Nam đã biên soạn được một số bộ tự điển, từ điển lấy đơn vị mục từ là chữ Hán, từ ngữ Hán. Trần Văn Giáp trong công trình khảo cứu về kho sách Hán Nôm1 đã đưa ra một danh sách những bộ tự điển, từ điển quan trọng. Căn cứ vào mục đích sử dụng, chúng tôi đã chia tách nhóm từ điển do ông giới thiệu thành hai tiểu loại nhỏ như sau:

- Loại từ điển về âm vận dùng để tra cứu vận bộ khi làm thơ, như: Thi vận tập yếu, Khâm Định tập vận trích yếu;

- Loại tự điển, từ điển dùng để học chữ Hán và từ ngữ Hán. Loại này chiếm phần lớn trong số các tự điển, từ điển lấy đơn vị mục từ là chữ Hán, từ ngữ Hán. Có các đại diện sau: Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa, Tam thiên tự giải âm, Nhật dụng thường đàm, Tự học tiết lục, Tự học cầu tinh ca, Thiên tự văn giải âm, Nam phương danh vật bị khảo… Trong các bộ tự thư này, nếu dựa vào mục đích sử dụng, cách thức biên soạn có thể phân biệt như sau:

+ loại đơn thuần chỉ là sách dạy viết chuẩn chính tả chữ Hán, như Tự học cầu tinh ca;

+ loại mang tính chất như một quyển sổ tay học từ ngữ Hán, như: Tự học huấn mông, Tự học tứ ngôn thi…;

+ loại được biên soạn trên cơ sở rút gọn bộ Khang Hi tự điển, các mục từ được sắp xếp theo bộ thủ Hán giống như cách sắp xếp của bộ tự điển nêu trên, như Tự điển tiết lục;

+ chiếm phần nhiều hơn cả vẫn là nhóm các bộ tự điển, từ điển Hán được sắp xếp theo môn loại (nghĩa là được sắp xếp xuất phát từ ý nghĩa của chữ Hán, từ ngữ Hán). Thuộc vào nhóm từ điển được sắp xếp theo môn loại gồm các quyển Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa, Nhật dụng thường đàm, Tự Đức thánh chế tự học giải nghĩa ca, Đại Nam quốc ngữ… Trong nhóm này, Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa là bộ từ điển có niên đại sớm hơn cả2. Không giống như các bộ từ điển khác trong nhóm, bên cạnh việc sắp xếp theo môn loại, các mục từ trong Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa còn được sắp xếp sao cho thành có thể hiệp vần với nhau (dùng thể thơ lục bát để liên kết các mục từ trong cùng một môn loại lại với nhau).

Đại Nam quốc ngữ (ĐNQN) thuộc nhóm bộ từ điển được sắp xếp theo môn loại. Trong từng môn loại, các mục từ không được sắp xếp theo một trật tự nào, gây khó khăn cho người muốn tra cứu nhanh. Đây là bộ từ điển song ngữ Hán Việt (phần giải thích tiếng Việt được ghi bằng chữ Nôm) khá tiêu biểu của triều Nguyễn (tiêu biểu vì một lẽ: số từ ngữ thu thập được nhiều hơn, cách giải thích chua nghĩa bằng chữ Nôm cũng sáng tỏ, chính xác hơn – LMH). Sách do Hải Châu Tử Nguyễn Văn San biên soạn, bài lệ được viết vào ngày Đoan Ngọ (mồng 5 tháng Năm) năm Canh Thìn niên hiệu Tự Đức 30 (1877). Sách được khắc in và lưu truyền rộng rãi trong dân gian vào năm đầu niên hiệu Thành Thái (1899).

1.2. Đôi điều so sánh hệ thống từ điển song ngữ của Nhật Bản và của Việt Nam

Hệ thống từ điển song ngữ của Nhật Bản là rất lớn. Khảo cứu về từ điển song ngữ của Nhật Bản (nói riêng) và của nhóm các nước chịu ảnh hưởng của văn hoá Hán (nói chung) không thể không đề cập đến danh từ “Setsuyoushu”. Setsuyoushu (phiên âm Hán Việt: tiết dụng tập) vốn là bộ từ điển cổ xuất hiện từ thời Muromachi (tiền thân của nó là bộ Kagakushuu, 1444). Sau này, Setsuyoushu đã trở thành danh từ gọi chung cho hệ thống từ điển song ngữ của Nhật Bản. Setsuyoushu được người Nhật sử dụng như là bộ bách khoa thư: nó không chỉ dùng để tra cứu tự dạng, âm đọc, cách dùng của chữ Hán mà còn là cẩm nang dùng để tra cứu về mọi lĩnh vực trong đời sống như: các dạng mẫu văn bản hành chính, cách cắm hoa, cách uống trà… cho đến hệ thống đình chùa, hoàng cung… trên toàn đất Nhật. Hệ thống văn bản Setsuyoushu khá nhiều: gồm 60 cổ bản. Đến nửa cuối của thế kỉ 19, hệ thống này lên tới 500 bản (bản thời cận thế). Trong số 60 cổ bản, Ekirinbon Setsuyoushu (Ekirinbon) là văn bản điển hình, có ảnh hưởng lớn đến hệ thống Setsuyoushu thuộc nửa sau của thế kỉ 19. Các mục từ trong Setsuyoushu được sắp xếp theo 2 cấp: bước đầu là xếp theo vận bộ (hệ thống nguyên âm cổ của tiếng Nhật) và bước 2: Trong từng vận bộ, các mục từ lại được xếp theo môn (theo ý nghĩa của từ). Ở nhóm văn bản thời cận thế, trật tự sắp xếp có sự sai khác: trong từng môn, các mục từ được xếp theo thứ tự số nét của chữ Hán.

Đối chiếu từ điển song ngữ Hán – Việt (nói chung) và ĐNQN (nói riêng) với Setsuyoushu có thể đưa ra mấy nhận định sơ bộ sau:

- Để có thể tiếp thu chữ Hán và văn hoá một cách hiệu quả hơn, ở cả hai nước đều cố gắng tập trung biên soạn cho riêng mình những bộ sách công cụ - đó là các bộ từ điển song ngữ. Thời điểm cho sự ra đời của các bộ từ điển song ngữ ở Nhật Bản và Việt Nam có sự tương đồng: Ở Nhật Bản, bộ từ điển đầu tiên được biên soạn là vào thế kỉ 15 (1444); ở Việt Nam Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa được coi là bộ từ điển song ngữ đầu tiên: Ngô Đức Thọ căn cứ vào cứ liệu chữ kiêng huý để đưa đến nhận định bộ Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa được biên soạn thời nhà Hồ (thế kỉ 15).

- Từ điển song ngữ Hán Nhật được sắp xếp theo hai cấp (theo bộ và theo môn/ hoặc theo môn và số nét của chữ Hán xuất hiện đầu tiên trong mục từ). Nhưng ở Việt Nam, các mục từ trong đó lại chỉ sắp xếp theo một cấp (theo môn), đây là trở ngại cho việc muốn tra cứu nhanh. Tìm hiểu sự giải thích chua nghĩa từ ở hai hệ thống từ điển này cũng cho thấy những điểm tương đồng văn hoá khá đều đặn giữa hai ngôn ngữ cùng chịu ảnh hưởng của văn hoá Hán (xin được đề cập đến ở một dịp khác).

- Xét về độ phổ dụng, độ bao quát từ vựng thì Setsuyoushu có phần nổi trội hơn. Nếu tính từ bộ từ điển đầu tiên được biên soạn (Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa) thì số lượng từ điển song ngữ ở Việt Nam không nhiều (14 bản), ở Nhật Bản con số này lên tới 560 bản; lượng từ vựng thu thập được trong từ điển song ngữ ở Việt Nam cũng có phần khiêm tốn hơn, ví dụ: ĐNQN có dung lượng 170 trang (bản gốc) trong khi ở Ekirinbon con số này là 278 trang. Trong ĐNQN (và cả trong các từ điển song ngữ khác của Việt Nam) thiếu hẳn các mục từ tra cứu về các mẫu văn bản hành chính, cách cắm hoa, cách uống trà, hệ thống đình chùa, hoàng cung…là những mục từ thường thấy ở bất cứ bộ song ngữ Hán Nhật nào. Có lẽ cũng vì lí do đó mà từ điển song ngữ của Việt Nam vẫn chỉ nằm trong thư phòng của các nhà nho. Ngược lại, Setsuyoushu đã thực sự trở thành người bạn đường của mọi thành phần xã hội: các nhà nho, các võ sĩ Samurai… Thế kỉ 19 đánh dấu sự nở rộ của Setsuyoushu. Những bộ Setsuyoushu cỡ nhỏ (loại bỏ túi), có bộ Setsuyoushu chuyên dụng cho phụ nữ, cho trẻ em… cũng đã được ấn hành. Điều đó đã khẳng định sự ảnh hưởng sâu rộng của ngôn ngữ văn tự Hán trong xã hội Nhật Bản đương thời.

2. ĐNQN - tác giả: Nguyễn Văn San

Nguyễn Văn San (1808–1883) tự là Hải Châu, hiệu Văn Sơn phủ quân, biệt hiệu Văn Đa cư sĩ, là Tú tài sáu khoa triều Nguyễn, Hội trưởng Hội Tư văn Thọ Quan. Ông sinh ngày mồng 9 tháng 6 (nhuận) năm Mậu Thìn (tức ngày 31-7-1808) trong một gia đình có nề nếp thi thư tại làng Đa Ngưu, tổng Đa Ngưu, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn Đa Ngưu, xã Tân Tiến, huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên). Thân phụ ông là cụ Thanh Nhã làm quan Án sát, thân mẫu ông cũng được sinh trưởng trong gia đình có truyền thống thi thư nên đã rất chăm lo đến công việc học hành của ông.

Vốn thông minh, đĩnh ngộ lại được sự chăm chút của gia đình nên ngay từ nhỏ ông đã nổi danh khắp vùng, được bạn bè quý trọng. Sau hai lần cư tang thân mẫu và thân phụ, năm 35 tuổi, ông thi đỗ Tú tài lần thứ nhất trong khoa thi năm Nhâm Dần (1842). Sau đó, ông thi 5 khoa nữa nhưng đều chỉ đỗ Tú tài. Bạn bè, họ hàng đều lấy làm tiếc cho ông là “đại tài tiểu thành” và muốn tiến cử ông nhưng ông đều từ chối và cho là mình không có số đại thành. Bởi vậy, ông quyết chí lui về dạy học và trước tác.

Cả cuộc đời, ông theo đuổi con đường học vấn. Sau khi làm tròn đạo hiếu với song thân, ông không “cam tâm làm một phú ông ở thôn quê” nên đã bán hết gia sản, đưa em và con ra Hà Nội để vừa được học thầy, vừa được giao du rộng với bạn bè (ông tham gia hội Thành Chương, hội Quế Giang và được cử làm Hội trưởng hội Thành Chương. Hội Thành Chương được đông đảo các nhà khoa bảng tham gia, số hội viên lên tới 170 người, trong đó 2 người đậu Hoàng giáp, 1 Tiến sĩ, 4 Phó bảng, 5 Giải nguyên, 23 Cử nhân và hơn 70 Tú tài), lại vừa có thể dạy học làm kế sinh nhai giữa thời buổi “gạo châu củi quế”.

Với tinh thần chuyên tâm học thầy, học bạn cho đến khi già yếu tay vẫn không rời quyển sách, và với một ý chí vượt mọi khó khăn trong cuộc sống để học tập3, Nguyễn Văn San đã để lại cho hậu thế một số lượng sách không nhỏ. Nhưng tiếc thay, nhà chứa sách đặt trong nhà thờ họ Nguyễn Xương tại làng Đa Ngưu đã bị thiêu huỷ bởi ngọn lửa chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Những gì còn lại chỉ là một dòng ghi trong gia phả: “…sở trứ Thế truyền bảo huấn khắc bản công truyền, hựu trứ Cách ngôn thư, Quốc ngữ thư, Quá đình huấn,…” (đã trước tác Thế truyền bảo huấn khắc in phổ biến rộng rãi, lại trước tác Cách ngôn thư, Quốc ngữ thư, Quá đình huấn, …).

Viện Nghiên cứu Hán Nôm cũng đã góp phần bổ sung thêm dòng gia phả còn bỏ sót những thông tin xung quanh các ghi chép về trước tác của ông. Hiện nay, kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ 4 quyển sau:

- Quan châm tiệp lục, kí hiệu A.217

- Độc thư cách ngôn, kí hiệu A.219

- Quốc văn tùng kí, kí hiệu AB.384

- Đại Nam quốc ngữ, kí hiệu AB.106

3. ĐNQN - văn bản và tác phẩm

Những ghi chép về trứ tác của Nguyễn Văn San nói chung, về văn bản ĐNQN nói riêng đã bị thất tán vì thời gian và ngọn lửa chiến tranh. Liệu có ở đâu còn lưu giữ văn bản ĐNQN hay không? Chúng tôi đã đi tìm tại các thư viện ở Hà Nội, về quê hương của tác giả, nhưng cũng chưa có kết quả. Thật may mắn vì được biết: hiện nay trong kho ván khắc của chùa Hưng Kí, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội còn lưu giữ gần như toàn bộ ván khắc in bộ ĐNQN này4. Sơ bộ khảo cứu có thể kết luận: Bản của Viện Nghiên cứu Hán Nôm được in từ bản khắc in nêu trên.

Văn bản ĐNQN hiện chỉ còn 1 bản duy nhất và đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Dưới đây xin giới thiệu đôi nét khái quát về văn bản này.

ĐNQN, kí hiệu thư viện AB.106, sách được hoàn thành và khắc in vào tháng 7 năm Kỉ Hợi niên hiệu Thành Thái (1899) tại nhà in Văn Sơn đường. Sách được đóng bìa cậy, in trên giấy dó và được bảo quản khá tốt, khổ sách 16x28cm. Sách gồm đầy đủ 85 tờ5: 1 tờ in tên sách; từ trang 1a đến trang 3a ghi bài tựa; trang 3a đến trang 3b là bài lệ; phần mục thứ được in từ trang 3b đến trang 4b; phần nội dung chính được bắt đầu từ trang 5a đến trang 85b. Mỗi tờ in hai mặt, mỗi mặt gồm 8 dòng chữ. Sách được sắp xếp theo môn bộ, tổng cộng có 50 môn bộ, gồm: Thiên văn môn, Địa lí  môn, Nhân luân môn, Thân thể môn…, Canh nông môn, Tằm tang môn, Ẩm thực môn, Bính nhị môn... cuối cùng là ba bộ: bộ Thuỷ, bộ Thổ và bộ Kim.

3.1. Về cách bố trí trong từng mục từ

ĐNQN được sắp xếp theo môn loại. Các mục từ trong từng môn loại không được sắp xếp theo một trình tự nào cả. Nó không giống như sự sắp xếp trong một số bộ từ thư trước đó của Việt Nam, như: Tam thiên tự giải âm, Chỉ Nam ngọc âm6. Đây cũng là điểm khác biệt giữa ĐNQN với các bộ tự thư cùng thời của Nhật Bản7. Với tư cách là một bộ từ điển song ngữ Hán Việt, cách sắp xếp như vậy không thuận lợi cho người muốn tiếp cận văn bản, những người muốn tra cứu nhanh các từ ngữ ghi trong đó.

Về cách bố trí trong từng mục từ, trên đại thể được trình bày như sau: chữ (/từ ngữ) Hán (mục từ) được in với co chữ to ở trên, phía dưới là phần giải thích được ghi bằng chữ Nôm với co chữ nhỏ hơn (xem hình 1).

 Tuy nhiên, cách trình bày nêu trên không phải diễn ra ở tất cả các mục từ: có nhiều từ thông dụng, tác giả ĐNQN chỉ ghi từ Hán nhưng lại không ghi lời giải thich bằng chữ Nôm; hoặc có mục từ chỉ có phần chú thích âm đọc của chữ Hán (không có lời giải thích); ở một số từ Hán khác, thay vì việc giải thích bằng chữ Nôm, tác giả lại ghi lời chú giải hoàn toàn bằng chữ Hán8… Trên đại thể, cách bố trí trong từng mục từ của ĐNQN có thể diễn ra theo các cách sau:

- Chữ (/từ ngữ) Hán được in chữ to ở trên, phía dưới là phần giải thích được ghi bằng chữ Nôm với co chữ nhỏ hơn. Ví dụ: mục từ Sấn mục (chữ Hán), nghĩa “trương mắt” (được ghi bằng chữ Nôm) (xem hình 1);

- Một số mục từ chỉ thấy ghi chữ Hán, không có lời giải thích nghĩa bằng chữ Nôm. Ví dụ các mục từ: đại phụ, vương phụ, đại mẫu, vương mẫu, tổ thúc phụ, tổ thúc mẫu (Nhân luân môn, tr. 15a, dòng 3-5) đều không có lời giải thích gì thêm (xem hình 2);

 

Hình 2 (tr. 15a)

Hình 2 (tr. 15a)

- Ở một số mục từ Hán khác, do đó là các chữ Hán không thông dụng, nên bên cạnh chữ Hán lại thấy ghi chú âm đọc các chữ đó (bằng cách viết nhỏ ở bên phải hoặc ở phía dưới, trước khi ghi lời giải thích bằng chữ Nôm), và phía dưới là phần giải thích nghĩa bằng chữ Nôm. Ví dụ mục từ chất tả ghi: Chất tả âm chất tả, hòn đá tảng (Cung thất môn, tr. 26b, dòng 2) (xem hình 3);

Hình 3 (tr. 26b, 2)

Phần chú âm ở bên phải của chữ Hán

- Một số ít trường hợp thấy chỉ ghi chữ Hán, không có lời giải thích nghĩa bằng chữ Nôm, thay vào đó lại thấy ghi đặc điểm, tác dụng của vật đó. Ví dụ mục từ san hô chỉ ghi đặc điểm của vật đó: San hô hữu ngũ sắc (Chân bảo môn, tr. 51a, dòng 6) (xem hình 4);

 - Có nhiều mục từ, ở phần giải thích lại ghi hoàn toàn bằng chữ Hán mà không thấy ghi lời giải thích bằng chữ Nôm. Đây cũng là điểm khác nhau cơ bản giữa ĐNQN với các bộ từ điển song ngữ khác như Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa, Tự Đức thánh chế tự học giải nghĩa ca, Tam thiên tự giải âm…. Ví dụ mục từ hà hoa hương ghi: Hà hoa hương hương hà hoa, kỳ tu thiêu khả khử văn (Chúng hương môn, tr. 53b dòng 3) (xem hình 5).

Có thể thấy, cách thể thức biên soạn ĐNQN khá tuỳ tiện: có mục từ được giải thích nghĩa (được ghi bằng chữ Hán hoặc bằng chữ Nôm); ngược lại có mục từ không hề có lời giải thích nào cả; phần chú thích mục từ chỉ nêu được một đặc điểm nổi trội của vật được ghi trong mục từ đó thôi (hoặc về công dụng hoặc về màu sắc… của vật đó); có mục từ ghi chú âm đọc (chú âm bằng một âm đọc của chữ Hán thông dụng hơn, hoặc chú âm đọc theo âm đọc Bắc Kinh hiện đại), thế nhưng chiếm phần đa số là các mục từ không hề chú thích âm đọc. Những điều nêu trên đây cũng là điểm hạn chế của ĐNQN: với tư cách là một bộ từ thư nhưng lại chưa đạt chuẩn của một bộ từ thư về thể thức biên soạn.

Để độc giả có thể hình dung rõ hơn về cách thức trình bày cũng như nội dung được ghi chép trong một mục từ của ĐNQN, xin tham khảo bản ảnh các ví dụ nêu trên được cắt từ văn bản gốc.

3.2. Về chú âm

ĐNQN không chú âm đọc cho toàn bộ các mục từ. Trên đại thể, việc ghi chú âm đọc chỉ thấy ở các chữ Hán khó, không thông dụng. Cách ghi chú âm đọc cho chữ Hán có thể là:

 a. Dùng một chữ Hán thông dụng đồng âm với chữ Hán cần chú thích âm đọc, ví dụ các mục từ sau:

Đại lỗ âm lỗ (9b). Dùng chữ lỗ 魯 để chú âm cho lỗ

Đầu lư âm lư, xương sọ đầu (18b). Dùng chữ lư 盧 để chú âm cho

Tịch bôn nước giữa dòng, âm tịch bôn (13a). Dùng tịch bôn 夕奔 để chú âm cho tịch bôn 汐 泍

 b. Có nhiều trường hợp dùng một chữ Hán khác gần âm để chú thích âm đọc cho chữ Hán cần chú âm

Chúng lưu âm chung, nước ngã ba sông (13a)

Trong trường hợp có sự khác nhau lớn giữa chữ Hán cần chú và chữ Hán dùng để chú, lại thấy ghi chú thêm về thanh điệu. Ví dụ các mục từ sau:

Niệu điểu khứ thanh, nước đái. (Niệu do điểu đọc khứ thanh);

Ngọc duẩn tân thượng thanh, đồng thượng. (chữ duẩn do chữ tân đọc thượng thanh);

Vĩ khao khao khảo bình thanh, xương cùng. (chữ khao do chữ khảo đọc thanh bình).

 c. Chú âm theo phiên thiết là phương pháp chú âm thường được sử dụng trong các bộ tự điển cổ của Trung Quốc. ĐNQN cũng đã áp dụng phương pháp này để chú âm cho một số chữ Hán. Xem các ví dụ:

Côn huynh đệ hồn phản, âm côn

Đăng đặng thiết, bậc đá trên núi (10a)

Thạch áp âm kháp, cửa cống đá. (11b)

 d. Là một bộ từ điển xuất hiện muộn, cách ghi âm theo âm đọc Hán ngữ hiện đại cũng được phản ảnh trong ĐNQN. Qua việc khảo sát cách chú âm trong ĐNQN thấy có trường hợp được ghi theo âm đọc Bắc Kinh.

Thạch khối âm khoái (10a). Chữ khoái 快 và khối 塊 đều có âm đọc Bắc Kinh là kuai.

4. ĐNQN - khảo cứu phiên âm

Là một bộ từ điển song ngữ khá tiêu biểu của Triều Nguyễn, ĐNQN đánh dấu bước trưởng thành của của ngôn ngữ dân tộc, phản ánh rõ nét sự tiếp thu và phổ biến Hán học ở Việt Nam. Thế nhưng, cho đến nay, các công trình nghiên cứu về ĐNQN còn quá sơ sài. Một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ, nghiên cứu chữ Nôm đầu thế kỉ XX mới chỉ nhắc đến ĐNQN khi bàn về các bộ từ điển song ngữ của Việt Nam, chưa có bài nghiên cứu, sách chuyên khảo riêng giành cho ĐNQN. Có thể khẳng định rằng khảo cứu của các nhà nghiên cứu đi trước mới chỉ đứng từ bên ngoài, từ bên trên để nhìn xuống khi đề cập đến ĐNQN; chưa có đề tài, công trình nào thật sự xuất phát từ bên trong nội dung và chữ nghĩa trong văn bản để nghiên cứu:

Trần Văn Giáp trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, nguồn tư liệu văn học sử học Việt Nam (1990) đã giành 2 trang để giới thiệu sơ lược về tên sách, kí hiệu thư viện, sơ lược bài lệ, danh mục 50 môn bộ và tiểu truyện về tác giả của sách. Ông đã khẳng định được giá trị của ĐNQN “nếu so sánh với những sách cùng một thể tài, như Chỉ nam ngọc âm, chỉ Nam bị loại, Nhật dụng thường đàm… ta thấy rằng ĐNQN mặc dầu thứ tự các mục sắp xếp còn lộn xộn, khó tra cứu, nhưng là sách làm sau nên số từ ngữ thu góp được nhiều hơn và về cách giải thích chua nghĩa bằng chữ Nôm cũng có phần sáng tỏ hơn, chính xác hơn”.

Nội dung và giá trị khoa học của ĐNQN cũng đã được giới thiệu trong mục tiểu truyện về tác giả Nguyễn Văn San trong sách Danh nhân Hưng Yên9: “ĐNQN là cuốn một sách quan trọng, nó bao trùm một kiến thức bách khoa đề cập nhiều tới các vấn đề thuộc khoa học tự nhiên là một lĩnh vực mà rất ít học giả nho học đề cập tới. ĐNQN đã đánh dấu một bước chuyển mới trong nhận thức học thuật của sĩ phu nước ta ở thế kỉ XIX…”

Nguyễn Ngọc San10 đã nhắc đến ĐNQN khi điểm mục các công trình nghiên cứu về chữ Nôm. Nguyễn Tá Nhí trong Tình hình nghiên cứu chữ Nôm11 đã khẳng định ĐNQN có nhiều đóng góp cho việc nghiên cứu về lịch sử ra đời và nguyên tắc cấu tạo của chữ Nôm. Sau khi trích lời tựa trong ĐNQN, ông đã đi đến kết luận: “rõ ràng Nguyễn Văn San đã ghi nhận Sĩ Nhiếp là người đặt ra chữ Nôm, nhưng ông không nói rõ vì sao mà ghi nhận như thế”.

Các chuyên khảo căn cứ vào nội dung chữ nghĩa của văn bản để nghiên cứu mới chỉ mới thực sự bắt đầu từ năm 2003, gồm hai chuyên khảo sau:

- Nằm trong đề tài nghiên cứu về khối từ điển song ngữ của hai nước Việt Nam và Nhật Bản, người viết những dòng khảo cứu này đã chọn ĐNQN để tiến hành đối chiếu với bộ song ngữ khá điển hình của Nhật Bản, đó là Ekirinbon Setsuyoshu. Trong bài nghiên cứu nêu trên, chúng tôi đã giành hẳn tiết 3 để đối chiếu các nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong hai bộ từ điển song ngữ của Việt Nam (lấy xuất phát điểm là mục Nhân luân bộ) và của Nhật Bản, từ đó rút ra những sự tương đồng và dị biệt trong hai ngôn ngữ khi tiếp cận và sử dụng chữ Hán12.

- Năm 2006, ĐNQN lại một lần nữa được các nhà nghiên cứu Nhật Bản biết tới13. Trong lần giới thiệu này, chúng tôi đã có bài khảo cứu về văn bản tác giả, phiên dịch ra tiếng Nhật toàn bộ văn bản, ảnh chụp nguyên bản và mục lục sách dẫn về các chữ Hán xuất hiện trong văn bản. Với lần giới thiệu này, các nhà nghiên cứu Nhật Bản có điều kiện để hiểu thêm về quá trình tiếp thu ảnh hưởng của văn hoá chữ Hán ở Việt Nam. Đây cũng là cơ sở tốt để giúp các nhà nghiên cứu ngôn ngữ hai nước có thêm cứ liệu xác thực để nghiên cứu chữ Nôm, nghiên cứu tiếng Việt giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX.

- Trong bài khảo Giá trị về phương diện y học của Đại Nam quốc ngữ (qua khảo cứu các giống cây cỏ, các loài côn trùng), chúng tôi đã giới thiệu tác dụng chữa bệnh của các giống cây cỏ các loài côn trùng được ghi trong ĐNQN (do tác giả khảo cứu từ thực tiễn của nghề y gia truyền và từ thực tiễn)

5. ĐNQN - giá trị nội dung và nghệ thuật

Trong lời tựa sách, Nguyễn Văn San ghi nhận rằng đã tham khảo bộ Nhật dụng tiết yếu khi biên soạn ĐNQN. Chúng tôi đã lưu tâm đi tìm văn bản này, nhưng vẫn chưa có kết quả. Được biết trong khối từ điển song ngữ của Nhật Bản có hệ thống Nhật dụng tập (Setsuyoshu) khá lớn14. Nhật dụng tiết yếuNhật dụng tập có mối liên hệ gì không? Có khả năng tác giả ĐNQN đã tham khảo bộ Nhật dụng tập của Nhật Bản hay không? Chúng tôi sẽ tiếp tục trở lại vấn đề này vào dịp khác.

Lâu nay khi nghiên cứu về nhóm sách từ điển song ngữ của Việt Nam, các nhà nghiên cứu thường hay đề cập đến các cuốn sau: Trùng san Chỉ Nam bị loại các bộ dã đàm tính bổ di đại toàn tự (gọi tắt là Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa) (thế kỉ 17, khảo cứu mới đây đã đẩy lên thế kỉ 15), Tam thiên tự giải âm (khắc in năm 1831), Tự Đức thánh chế tự học giải nghĩa ca, Nhật dụng thường đàm (khắc in năm 1851), Đại Nam quốc ngữ (khắc in năm 1877), Nam phương danh vật bị khảo (khắc in năm 1902)… Có thể thấy, theo trình từ thời gian, ĐNQN là bộ từ điển song ngữ được khắc in khá muộn. Phải chăng đây cũng là một thuận lợi để tác giả ĐNQN có điều kiện tiếp thu, bổ sung những thiếu hụt (về từ vựng) của các bộ tự điển được khắc in trước đó.

Khảo cứu ĐNQN, chúng tôi gặp không ít khó khăn vì phải tiếp xúc với một số lượng lớn các chữ Hán, từ ngữ Hán không thông dụng; vì phải phiên dịch các kiến thức về y học và khoa học tự nhiên phong phú vốn không phải lĩnh vực chúng tôi quan tâm. Tất cả những tri thức đó chỉ có thể có được ở Nguyễn Văn San – một con người học không biết mệt mỏi15.

ĐNQN không chỉ cung cấp cho chúng ta các từ ngữ thuộc lĩnh vực khoa học xã hội (các từ chỉ quan hệ thân tộc, các câu thành ngữ tục ngữ, các từ chỉ mối quan hệ con người với con người, các từ chỉ quan hệ hôn nhân…) mà còn cung cấp rất nhiều tri thức về thiên văn, địa lí để chúng ta có thêm hiểu biết về thế giới xung quanh. Các mục Bách thảo môn, Bách mộc môn, Bách hoa môn, Vũ trùng môn, Mao trùng môn, Lân trùng môn, Giáp trùng môn… đã cung cấp cho người đọc khá nhiều kiến thức về khoa học tự nhiên, đặc biệt là lĩnh vực y học. Nhiều bài thuốc chữa bệnh hay (được chế biến từ các loài cây cỏ, các loài côn trùng…), các mẹo nhỏ thường gặp trong cuộc sống hàng ngày cũng đã được tác giả ĐNQN giới thiệu.

Có thể khẳng định, ĐNQN mang tính chất của một bộ bách khoa thư thu nhỏ. Với tính chất này, ĐNQN khá giống với hệ thống từ điển song ngữ Setsuyoshu của Nhật Bản.

Kiến thức uyên bác của Nguyễn Văn San còn thể hiện ở việc giải thích các hiện tượng tự nhiên như gió, sương và mưa (như các giải thích ở các trang 7b, 8b và 9a..), hoặc như việc giải thích ở mục từ thần lâu – một hiện tượng ảo ảnh trên biển (trang 12a). Có thể thấy, nếu không có một tác phong làm việc thận trọng khoa học cùng với việc tham cứu rộng các sách thời trước thì khó có thể hiểu biết tường tận về các hiện tượng tự nhiên đó. Đây cũng là điểm khác biệt giữa Nguyễn Văn San với các nhà Nho trung đại thường chỉ gắn với văn chương chữ nghĩa đơn thuần.

ĐNQN còn là nguồn tư liệu quý để nghiên cứu tiếng Việt: các cứ liệu để nghiên cứu ngữ âm (đặc biệt là sự chuyển đổi hệ thống âm đầu tiếng Hán và tiếng Việt, ví dụ chuyển đổi phụ âm đầu từ l – tr, từ th – x, từ ch – tr..) và ngữ pháp tiếng Việt thế kỉ 19.

Ưu điểm rất nhiều, tuy nhiên ĐNQN cũng không tránh khỏi một số thiếu sót nhất định:

- Hiện tượng khắc in nhầm chữ: chữ nhật đã bị khắc in thành chữ nguyệt. Trong mục từ Dục nguyệt lẽ ra chữ nguyệt phải được viết là chữ nhật. Dục nhật có nghĩa: “mặt trời mọc lên ở ngoài biển, ánh sáng dập dờn trên sóng nước nên gọi là mặt trời tắm”.

- Đôi khi cũng xảy ra hiện tượng in thiếu nét chữ Hán, ví dụ trong mục từ Sẩn, chữ                     
      in thiếu nét phẩy cuối cùng...

- Hiện tượng in sai như trong mục từ Hoàng mai vũ. Mục từ này được ghi như sau: Hoàng mai vũ Hạ chí tiền Mang trực hậu. Chữ trực lẽ ra phải được in là chữ chủng. Mang chủng có nghĩa: “tiết hậu vào lúc lúa trổ đòng đòng, chừng khoảng mồng 6, 7 tháng Sáu dương lịch”.

- Hiện tượng in thiếu chữ Hán trong mục từ Phong. Ở mục từ này đoạn cuối ghi: Tốn nhị, Phong thập bát di vi phong thần. Thực ra đây là tên hai vị thần gió, nhưng do in thiếu chữ gia đã làm cho người đọc giải văn bản thật sự lúng túng. Vì là từ không thông dụng lại thuộc vào lĩnh vực khoa học tự nhiên, khi đọc đến những dòng trên chúng tôi hoàn toàn không hiểu, không thể ngắt câu được, cũng tìm đến các nhà nghiên cứu đi trước để tham vấn, nhưng chẳng có kết quả. Cố gắng tra tìm các bộ đại từ điển để trợ giúp, chúng tôi mới có thể hiểu và cắt nghĩa chính xác, tìm được chữ in thiếu trong mục từ nêu trên. Cách ghi chính xác phải là Tốn nhị, Phong gia thập bát di vi phong thần (nghĩa “Tốn nhị và Phong gia thập bát di gọi là thần gió16).

Tuy nhiên, những sai sót nhỏ nêu trên không thể làm mất giá trị của ĐNQN. ĐNQN thật sự là cuốn bách khoa thư thu nhỏ, nó đánh dấu một bước chuyển mới trong nhận thức học thuật của sĩ phu nước ta ở thế kỉ XIX17… Sách đã cung cấp nhiều tri thức cần thiết trong cuộc sống hàng ngày, giúp người đọc có thể hiểu rõ hơn về thế giới xung quanh.

Thay cho lời kết, chúng tôi muốn nhắc đến lời của Khổng Tử được tác giả ĐNQN ghi lại trong phần tựa của sách: “con người ta không học Chu Nam, Thiệu Nam thì cũng giống như đứng úp mặt vào tường”. Ngài lại nói: “Việc học ở cửa Thánh không cầu cao xa, cũng không chê thấp gần; học những kiến thức về các loài cây cỏ, chim thú thì như thế cũng là nhập đạo rồi vậy”. Theo lời dạy của Đức Thánh Khổng, Nguyễn Văn San đã không đi theo xu hướng chung của các sĩ phu đương thời. Với ông thì học theo đạo thánh được bắt đầu từ việc đi tìm hiểu những tri thức về cây cỏ, chim thú. Đó chính là lí do để Nguyễn Văn San bỏ nhiều tâm sức để biên soạn thành công bộ ĐNQN và đó cũng giải thích vì sao ĐNQN lại vượt hơn hẳn các bộ song ngữ đương thời (xét về mức độ tường giải trong từng mục từ và mức độ bao quát từ vựng).

 

CHÚ THÍCH

1 Trần Văn Giáp: Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, nguồn tư liệu văn học sử học Việt Nam, Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nôi, 1990.

2 Các khảo cứu đều cho rằng tác giả của Chỉ Nam ngọc âm là bà Trịnh Thị Ngọc Trúc (thế kỉ 18). Ngô Đức Thọ đã căn cứ vào chữ viết kiêng huý để đưa đến nhận định niên đại của văn bản là đầu thế kỉ 15 (đời nhà Hồ). Xem: Ngô Đức Thọ, Thông tin mới nhất về Chỉ nam ngọc âm in trong Nghiên cứu chữ Nôm, Viện Nghiên cứu Hán Nôm – Hội bảo tồn di sản chữ Nôm Hoa kì, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006, tr. 299

3 Bài đề từ trên bức tranh truyền thần cụ Nguyễn Văn San treo tại nhà thờ họ tại làng Đa Ngưu có ghi: kinh sử hướng lai bần đáo cốt (nghĩa “kinh sử tới nay nghèo thấu xương”).

4 Thông tin do nhóm Trần Thị Xuân Phương, Vương Hường và Phạm Hương Lan trong lần khảo sát kho ván khắc tại chùa Hưng Kí, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, cung cấp.

5 1 tờ sách Hán Nôm được in cả hai mặt, được đánh số trang theo thứ tự trang a và trang b.

6 Trong bộ từ điển này, các mục từ được nối kết nhau theo vần điệu thơ lục bát, rất thuận lợi cho việc ghi nhớ.

7 Các bộ Setsuyoshu hậu thế (thế kỉ 17 trở về sau) của Nhật Bản được xếp theo môn. Trong từng môn, các mục từ được xếp theo thứ tự số nét của chữ Hán.

8 Trong bài lệ, ông ghi rõ thể thức biên soạn: “sách này đem các từ ngữ chú ra Quốc âm, đều được tra cứu đầy đủ, còn những chữ dễ thì không cần thiết phải chú”.

9 Danh nhân Hưng Yên, Sở văn hoá thông tin, Hội Văn học Nghệ thuật Hưng Yên, 1997.

10 Nguyễn Ngọc San, Những thành tựu nghiên cứu chữ Nôm, trong Nhìn lại Hán Nôm học Việt Nam thế kỉ XX, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003.

11 Nguyễn Tá Nhí, Tình hình nghiên cứu chữ Nôm, trong Nhìn lại Hán Nôm học Việt Nam thế kỉ XX, sđd.

12 Báo cáo về: NitsuYetsu ryougengoni okeru Kogojiten no hikakukenkyuu - Ekirinbon Setsuyoshu to Dainankokugo wo chuushinni, (bài viết bằng tiếng Nhật). Đề tài được Quỹ Sumitomo Nhật Bản (tài khoá 2004) tài trợ thực hiện.

13 La Minh Hang (kanshuu), Dainankokugo – eiyin,hanji, kaisetsu, kanji sakuyin, Tokyo Gakugei daigaku Kojisho kenkyuukai henshu kyouroku, Tokyo. 2006.

Công trình được Quỹ Giáo dục Nhật Bản tài trợ xuất bản. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Quỹ và GS Takahashi Tadahiko đã giúp đỡ nhiều trong quá trình thực hiện đề tài này.

14 Có khoảng 60 cổ bản và 500 bản thời cận thế đều mang tên Setsuyoshu.

15 Trong lời tựa sách ông đã nêu: Cần có tầm nhìn xa trông rộng không ngừng bàn luận và gọi là sách nặc sinh (sách sống). Người chủ tập sách này lấy đó mà nhấm nháp, nghiền ngẫm nhiều dòng, sưu tầm khắp trong trăm họ. Phàm những hình dáng, tên gọi của các vật đã nhìn thấy thì đều nhất nhất đem ra khảo xét, thảo luận từng thứ một; hoặc những chỗ mà người khác ghi chép giản lược, chưa được đầy đủ; hoặc những chỗ chú thích chưa rõ ràng…Bèn tham khảo thêm lời của người xưa, tìm những ghi chép trong sách thần tích, lặng lẽ ghi rộng tìm nét tinh uẩn, cắt bỏ những phiền nhũng, rườm rà trước sau…”.

16 Vốn là Phong gia thập bát di, dùng để chỉ thần gió, thấy ghi trong sách Bác dị kí..

17 Khi khảo cứu về ĐNQN, Lê Phú Bình và Nguyễn Văn Chiến đã đi đến nhận định “Nó (ĐNQN) vừa mang tính chất của một bộ tự điển Hán Nôm nói chung, vừa chứa đựng trong mình nhiều nhân tố có tính thời đại của buổi giao thời Âu – Á, thời đại của bước chuyển từ truyền thống sang hiện đại nhưng theo cách nhìn của một nhà nho… về cái học phi khoa cử cũng như tư tưởng về quốc ngữ của người biên tập – Hải Châu tử Nguyễn văn San. Xem Phạm Văn Khoái Hán Nôm Việt Nam những thập niên cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20 trong bước chuyển của văn hoá Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại, Báo cáo tổng hợp đề tài cấp Quốc gia, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009 (bản thảo).

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

[1] Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, nguồn tư liệu văn học sử học Việt Nam, Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990.

[2] Ngô Đức Thọ, Thông tin mới nhất về Chỉ nam ngọc âm, trong Nghiên cứu chữ Nôm, Viện Nghiên cứu Hán Nôm – Hội bảo tồn di sản chữ Nôm Hoa kì, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006.

[3] Danh nhân Hưng Yên, Sở Văn hoá Thông tin - Hội Văn học Nghệ thuật Hưng Yên, 1997.

[4] Nguyễn Ngọc San, Những thành tựu nghiên cứu chữ Nôm, trong Nhìn lại Hán Nôm học Việt Nam thế kỉ XX, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003.

[5] Nguyễn Tá Nhí, Tình hình nghiên cứu chữ Nôm, trong Nhìn lại Hán Nôm học Việt Nam thế kỉ XX, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003.

[6] Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa, Trần Xuân Ngọc Lan (khảo cứu phiên âm), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985.

7. Thơ văn Tự Đức, tập 3: Tự Đức thánh chế tự học giải nghĩa ca, Phan Đăng phiên âm, Nxb Thuận Hoá, Huế.1996.

8. La Minh Hang (kanshuu), Dainankokugo – eiyin, hanji, kaisetsu, kanji sakuyin, Tokyo Gakugei daigaku Kojisho kenkyuukai henshu kyouroku, Tokyo. 2006.

9. Lã Minh Hằng, Đại Nam quốc ngữ, khảo cứu, phiên âm, giải thích và sách dẫn, Tokyo Gakugei Daigaku, Kojishokenkyuukai, Japan, 10-2007.

10. Lã Minh Hằng, Giá trị về phương diện y học của Đại Nam quốc ngữ (qua khảo cứu các giống cây cỏ, các loài côn trùng), Thông báo Hán Nôm 2009 (bản thảo xuất bản).

11. Phạm Văn Khoái, Hán Nôm Việt Nam những thập niên cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20 trong bước chuyển của văn hoá Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại, Báo cáo tổng hợp đề tài cấp Quốc gia, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009 (bản thảo).

12. 大南国语, kí hiệu AB.106, Viện Nghiên cứu Hán Nôm (sách Hán Nôm).

SUMMARY

This article presents Đại Nam quốc ngữ, a bilingual dictionary compiled by scholar Nguyễn Văn San. This meticulously elaborated work will serve as a valuable source for studying the Vietnamese language on the aspects of phonetics, vocabulary… as well as method for compiling reference dictionaries.



Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 01, năm 2011