NGỮ NGHĨA CỦA TỪ CHỈ MÀU ĐỎ TRONG TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT

19/11/2021

Tóm tắt: Bài viết này phân tích nghĩa gốc và các nghĩa phái sinh của từ chỉ màu “đỏ” trong 7 cuốn từ điển tiếng Việt qua các giai đoạn, từ đó tìm hiểu được đặc điểm ngữ nghĩa, sự phát triển nghĩa của từ chỉ màu này trong từ điển tiếng Việt nói riêng, trong tiếng Việt nói chung.

Từ khóa: Từ chỉ màu sắc, màu cơ sở, nghĩa gốc, nghĩa phái sinh, từ điển.

Abstract: This article analyzes the original and derivative meanings of the basic color word “đỏ” (red) in 7 Vietnamese dictionaries over stages, thereby researching the semantic characteristics and development of this word in the Vietnamese dictionaries in particular and in Vietnamese in general.

Keywords: Color words, basic colors, original meaning, derivative meaning, dictionary.

 

1. Đặt vấn đề

Trong tiếng Việt, từ chỉ màu đỏ là một trong số tám từ chỉ màu gồm trắng, đen, đỏ, xanh, vàng, nâu, tím, xám với đặc điểm là từ được dùng phổ biến, đơn giản về hình thức (đơn tiết), có phạm vi biểu vật rộng lớn, có khả năng tạo vô số các từ phái sinh dùng để gọi tên màu sắc và mang tính võ đoán.

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ phân tích nghĩa gốc, các nghĩa phái sinh và nghĩa biểu trưng của từ chỉ màu đỏ trong 7 cuốn từ điển tiếng Việt qua các giai đoạn(1) để từ đó có thể tìm hiểu được đặc điểm ngữ nghĩa, sự phát triển nghĩa của từ này trong từ điển tiếng Việt nói riêng, trong tiếng Việt nói chung.

2. Nghĩa gốc và sự phát triển nghĩa của từ chỉ màu đỏ trong Từ điển tiếng Việt

2.1. Phân tích nghĩa gốc của từ chỉ màu đỏ

Với mục đích phân tích miêu tả ngữ nghĩa của từ chỉ màu đỏ trong tiếng Việt, chúng tôi sẽ lần lượt khảo sát những định nghĩa về từ này ở 7 cuốn từ điển giải thích tiếng Việt tiêu biểu trong gần một thế kỷ nay: Việt Nam tự điển (Hội Khai trí Tiến Đức, 1932) - KT; Tự điển Việt Nam phổ thông (Đào Văn Tập, 1952) - ĐVT; Việt Nam tân từ điển (Thanh Nghị, 1952) - TN; Từ điển tiếng Việt (Văn Tân chủ biên, 1967) - VT; Tự điển Việt Nam (Lê Văn Đức, 1970) - LVĐ; Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, 1988 tái bản năm 2000) - HP; Từ điển tiếng Việt (Nguyễn Lân, 1998) - NL.

Nhìn chung, cả 7 cuốn từ điển này đều có tính chất từ điển phổ thông, cỡ vừa hoặc cỡ nhỏ, với cách sắp xếp mục từ giống hoặc khác nhau. Như cuốn KT và LVĐ có cách sắp xếp kép (tức là thu thập triệt để các tiếng đơn âm với tư cách là từ hoặc là yếu tố đứng đầu để tạo từ). Cùng là tự điển, song ĐVT lại không thu thập các tiếng như hai cuốn tự điển trên mà cơ bản thu thập từ và ngữ, sắp xếp theo vần. TN, VT, và sau này là HP và NL đều lấy từ ngữ làm đơn vị.  

Cấu trúc và cách định nghĩa của các tự điển và từ điển cũng có thể giống hoặc khác nhau tùy thuộc theo quan điểm của mỗi nhà biên soạn. Các từ điển như VT, HP hay NL chỉ chia các nghĩa thành I, II hoặc III khi chia tách các đồng âm cùng gốc (khi có sự chuyển loại). Ngược lại, từ điển TN không chia theo tiêu chí ấy, vì thế, mặc dù chia thành I, II hay III, nhưng vẫn chỉ là các nghĩa phái sinh trong một từ đa nghĩa. 

Dưới đây là bảng minh họa cho nghĩa gốc của từ chỉ màu đỏ trong 7 cuốn từ điển tiếng Việt.

Căn cứ vào bảng minh họa cho những định nghĩa đầu tiên về từ chỉ màu đỏ được biên soạn trong 7 cuốn từ điển nói trên (định nghĩa trích dẫn), có thể nhận xét về định nghĩa của từ này như sau:

 KT và ĐVT thu thập chữ đỏ và định nghĩa theo kiểu sử dụng chữ đồng nghĩa (màu hồng) trong lời định nghĩa, cho ví dụ và đưa ra nghĩa bóng. Ví dụ: “đỏMầu hồng. Phẩm đỏ, vải đỏ, mặt trời đỏ. Nghĩa bóng: nói về lúc vận may, gặp nhịp: Vận đỏ dễ làm ăn, đánh bạc gặp canh đỏ. Văn-liệu: Đỏ như mặt trời mọc. Đỏ như hoa vông, đông như miếng tiết. Con cóc ăn trầu đỏ môi, Có ai lấy lẽ thầy tôi thì vào (C-d)”.

Trong khi đó, tra cứu nghĩa của chữ hồng là chữ được dùng để giải nghĩa cho chữ đỏ trong 2 cuốn này lại được định nghĩa là “màu đỏ hoặc đỏ lạt, nghĩa rộng”. Như vậy, có thể thấy rằng cách thức định danh cho màu đỏ trong 2 cuốn tự điển trên được giải thích liên tưởng tới chữ hồng hồng thẫm là vòng vo, không dựa vào trực quan và vật mẫu trong thực tế.

Riêng cuốn LVĐ, màu đỏ được định nghĩa “Điều, có màu hồng sặm như son. Mực đỏ, sơn đỏ; Còn cha gót đỏ như son (CD)”. Điều này cho thấy, mặc dù cũng được gọi là tự điển, song việc giải thích nghĩa cho tên gọi đỏ trong cuốn này đã có sự khác biệt so với 2 cuốn tự điển trước đây. Cụ thể là, đỏ vừa được gọi tên qua đồng nghĩa điều, vừa được so sánh với một sự vật cụ thể trong tự nhiên là son. Xem xét đồng nghĩa điều trong cuốn tự điển này, cho thấy điều được định nghĩa là: “tt. Đỏ như màu trái điều đỏ. Gà điều, khăn điều, nhiễu điều”. Tới đây, chúng ta lại gặp phải cách giải thích vòng vo trong lời định nghĩa của cuốn tự điển này, mặc dù đã sử dụng cả cách giải thích trực quan so sánh.

Trong số những cuốn từ điển còn lại là TN lại giải thích nghĩa thứ nhất của đỏ cũng tương tự như 2 cuốn tự điển của KT và ĐVT nói trên, đơn giản là “Hồng thẫm. Đỏ thì son đỏ, mực thì đen (Ng.b. Khiêm)”, và chỉ khác hơn một chút là đưa ra một số biến thể của đỏ như là “Đỏ chói. Đỏ choét, đỏ chon chót. Đỏ gay. Đỏ lòm, rất đỏ” và một số ví dụ “Đỏ loét. Đỏ mặt, mặt đỏ vì xấu hổ. Đỏ ngàu. Đỏ ối, Nht. đỏ lòm. Đỏ rực, rất đỏ. Đỏ thắm. Đỏ tim. Đỏ tươi. Đỏ ửng”. Vậy là, kiểu giải thích trong TN lại mắc phải cách giải thích vòng vo loanh quanh của 2 cuốn tự điển trên là hồng cũng được giải thích bằng đỏ.

Tới VT, mặc dù ra đời trước LVĐ, song đã rất tiến bộ trong cách định nghĩa từ chỉ màu đỏ: “Có màu ít nhiều giống màu của một số vật trong giới tự nhiên hay do con người chế tạo như máu còn tươi, cánh hoa hồng, nền cờ Việt Nam”. Các nhà biên soạn cuốn từ điển này đã định nghĩa hoàn toàn theo cách lựa chọn đặc trưng thật sự nổi trội tồn tại ở những sự vật có thật trong thế giới xung quanh để làm cơ sở cho việc gọi tên cho màu đỏ. Ở đây, đỏ được định danh nhờ việc so sánh các vật có tính chất tiêu biểu (có thể là đặc điểm tự nhiên (máu, cánh hoa hồng) hay đặc điểm nhân tạo (nền cờ Việt Nam).

Hai cuốn từ điển còn lại là HP và NL, cách định nghĩa đỏ đã gần như theo một khuôn mẫu cho cách định nghĩa về màu sắc theo lối so sánh trực quan - tức là tìm ra vật mẫu có thuộc tính tương tự như thuộc tính của màu để so sánh (đặc biệt thống nhất và nhất quán trong cuốn từ điển HP), cụ thể là “Có màu như màu của son, của máu. Mực đỏ. Khăn quàng đỏ. Thẹn quá, mặt đỏ như gấc. Lửa đỏ rực một góc trời.

Như vậy, qua khảo sát định nghĩa về từ đỏ trong các cuốn từ điển giải thích tiếng Việt trên, có thể phân thành 2 loại/kiểu định nghĩa:

+ Cách định nghĩa từ chỉ màu đỏ qua chỉ dẫn từ đồng nghĩa

+ Cách định nghĩa từ chỉ màu đỏ thông qua việc so sánh với các vật mẫu.

Ngoại trừ các định nghĩa vòng vo luẩn quẩn nói trên, với cách định nghĩa từ chỉ màu liên tưởng qua so sánh với vật mẫu, những loại vật mẫu chỉ được sử dụng trong 4 cuốn từ điển (LVĐ, VT, HP, NL) gồm: máu, son, cờ và cánh hoa hồng, được đánh giá cụ thể ở Bảng 2.

Có thể thấy, tần số sử dụng của hai vật mẫu điển hình máu son là như nhau, đều xuất hiện trong HP và NL, và riêng son trong LVĐ và máu trong VT.

2.2. Sự phát triển nghĩa của từ chỉ màu đỏ

Dưới đây là các định nghĩa đầy đủ về từ chỉ màu đỏ của 7 cuốn từ điển tiếng Việt:

KT: “Mầu hồng Phẩm đỏ, vải đỏ, mặt trời đỏ. Nghĩa bóng: nói về lúc vận may, gặp nhịp: Vận đỏ dễ làm ăn, đánh bạc gặp canh đỏ. Văn-liệu: Đỏ như mặt trời mọc. Đỏ như hoa vông, đông như miếng tiết. Con cóc ăn trầu đỏ môi, Có ai lấy lẽ thầy tôi thì vào (C-d)” [4]

ĐVT: “Mầu hồng Phẩm đỏ, vải đỏ, mặt trời đỏ. Nghĩa bóng: nói về lúc vận may, gặp nhịp: Vận đỏ dễ làm ăn, đánh bạc gặp canh đỏ. Văn-liệu: Đỏ như mặt trời mọc. Đỏ như hoa vông, đông như miếng tiết. Con cóc ăn trầu đỏ môi, Có ai lấy lẽ thầy tôi thì vào (C-d)” [9]

TN: “I. 1. Hồng thẩm Đỏ thì son đỏ, mực thì đen (Ng.b.Khiêm) 2. Đỏ chói. Đỏ choét, đỏ chon chót. Đỏ gay. Đỏ lòm, rất đỏ Đỏ loét. Đỏ mặt, mặt đỏ vì xấu hổ. Đỏ ngàu. Đỏ ối, Nht. đỏ lòm. Đỏ rực, rất đỏ. Đỏ thắm. Đỏ tim. Đỏ tươi. Đỏ ửng II. May mắn Vận đỏ, số đỏ” [6]

VT: “1. Có màu ít nhiều giống màu của một số vật trong giới tự nhiên hay do người chế tạo, như máu còn tươi, cánh hoa hồng, nền cờ Việt Nam Khăn quàng đỏ của thiếu niên 2. Có màu nói trên nhưng thường nhạt hơn do máu bốc lên hay tụ lại Mặt đỏ vì say rượu, Cái nhọt đã sưng đỏ 3. Đang cháy, đang phát ra ánh sáng Than còn đỏ; Có điện, đèn đỏ rồi 4. May mắn Vận đỏ” [8]

LVĐ: “1. Điều, có màu hồng sặm như son Mực đỏ, sơn đỏ; Còn cha gót đỏ như son (CD) 2. (R) Tối, đèn đường đã cháy (do đỏ đèn) Đỏ rồi, về mau kẻo không kịp 3. Hên, may Số đỏ, vận đỏ 4. (Pháp) Màu cấm-đoán Bảng đỏ, đèn đỏ” [2]

HP: “1. Có màu như màu của máu, của son Mực đỏ. Khăn quàng đỏ. Thẹn quá, mặt đỏ như gấc. Lửa đỏ rực một góc trời 2. Ở trạng thái hoặc làm cho ở trạng thái cháy (nói về lửa) Lửa đã đỏ lại bỏ thêm rơm (tng.). Đỏ lửa* 3. Thuộc về cách mạng vô sản, có tư tưởng vô sản (do coi màu đỏ là biểu tượng của cách mạng vô sản) Công hội đỏ. Đội tự vệ đỏ 4. Có được sự may mắn ngẫu nhiên nào đó; trái với đen Số đỏ. Gặp vận đỏ. // Láy: đo đỏ (ng. 2; ý mức độ ít)” [7]

NL: “1. Có màu như máu, như son Cờ đỏ sao vàng; Khăn quàng đỏ 2. Hồng hồng Mặt đỏ 3. Đã cháy Than còn đỏ; Đèn đỏ rồi 4. Theo biểu tượng của cách mạng vô sản Công hội đỏ 5. May mắn Vận đỏ 6. Nói khi đánh bài không thua Hắn được nhiều là vì đỏ, chứ có tài năng gì” [5].

2.2.1. Miêu tả và nhận xét

Có thể thấy, trừ hai cuốn tự điển KT và ĐVT chỉ có duy nhất một nghĩa gốc cho đỏ (các nghĩa bóng của từ đều được xếp trong văn liệu - ví dụ), còn lại 5 cuốn kia đều có ít nhất từ 3 nghĩa trở lên. Cụ thể, từ điển TN có ít nghĩa phái sinh nhất (2 nghĩa), vì phân theo kiểu đồng âm cùng gốc, trong đó nghĩa I gồm 2 nghĩa (nghĩa gốc của đỏ và các biến thể sắc thái của đỏ), nghĩa II mới là nghĩa phái sinh, vì thế, thực chất chỉ có 2 nghĩa. Từ điển VT, LVĐ và HP đều có 4 nghĩa, tức là chỉ có 3 nghĩa phái sinh. Duy nhất từ điển NL có nhiều nghĩa nhất - tới 6 nghĩa, gồm có 5 nghĩa phái sinh.

Tổng hợp tất cả những nghĩa phái sinh trong 5 cuốn từ điển trên, chúng tôi thu được những phạm trù liên tưởng về đỏ gồm có: màu máu bốc lên (cảm xúc), lửa (đèn), cách mạng vô sản, may mắn, đánh bài không thua màu cấm đoán, được tổng hợp dưới đây:

Có thể thấy, trong số các phạm trù liên tưởng của đỏ, phạm trù được liên tưởng nhiều nhất là sự may mắn/hên (5/5 - có ở cả 5 cuốn). Sau đó là liên tưởng về lửa/cháy/đèn (4/5 từ điển -VT, LVĐ, HP, NL). Thứ ba là liên tưởng về cách mạng (2/5 từ điển -VT, NL) và (máu) bốc lên (2/5 từ điển -HP, NL). Cuối cùng, ít nhất là liên tưởng tới sự cấm đoán (LVĐ) và đánh bài không thua (NL): 1/5.

2.2.2. Sự phát triển nghĩa của từ chỉ màu đỏ

Tổng hợp phân tích các nghĩa phái sinh của từ chỉ màu đỏ trong 7 cuốn từ điển, có thể thấy, sự phát triển nghĩa phái sinh của đỏ có xu hướng phát triển nghĩa tương đối đều đặn. Có thể tổng kết hướng phát triển nghĩa chính của từ chỉ màu đỏ như sau: (xem Sơ đồ 1).

Theo sơ đồ phát triển nghĩa của từ chỉ màu đỏ trong tiếng Việt, có thể thấy từ này ngoài nghĩa cơ sở còn phát triển thêm 6 nghĩa phái sinh - những sản phẩm của quá trình chuyển nghĩa.

Trước tiên, từ nghĩa gốc (có màu của máu,/của son), nét nghĩa màu của máu đã được lựa chọn làm cơ sở cho sự phát triển một nghĩa phái sinh mới là “máu bốc lên (cơ thể con người)”. Cách lý giải cho nghĩa phải sinh này là căn cứ theo đặc điểm sinh lý học của cơ thể con người để giải thích cho sự phát triển của nghĩa mới. Trước hết, máu của con người thường có màu đỏ vì có hồng cầu, chứa huyết sắc tố nên khi máu được cung cấp đủ để nuôi cơ thể, da dẻ con người thường có màu hồng hào (màu da của con người khi khỏe mạnh). Tuy nhiên, khi có phản ứng sinh lý thể hiện cảm xúc của con người như thẹn thùng, vui sướng hay tức giận, huyết áp thường tăng dần lên tùy mức độ và loại cảm xúc, khiến máu bốc lên bề mặt da (thường thấy ở mặt, má, mắt). Đây chính là cơ sở cho sự chuyển nghĩa ẩn dụ về cảm xúc của con người mà người Việt Nam thường thể hiện trong các kết hợp như mặt đỏ tía tai, đỏ mặt tía tai, thẹn đỏ mặt, đỏ mắt mong chờ, tức đỏ con mắt,...

Nghĩa thứ hai của từ chỉ màu đỏ ở trạng thái cháy (nói về lửa) hoặc sáng lên (nói về đèn) - một sự liên tưởng mang tính trực quan của người Việt.

Nếu chú ý đến đặc điểm của màu đỏ, xét trong thang độ màu sắc, đây là một màu thuộc gam nóng và về mặt nhận thức tâm lý, “đỏ là màu rực rỡ và nóng” [13, p.57]. Hai từ rực rỡ nóng được dùng ẩn dụ và chính những ẩn dụ này có ích cho việc giải thích nghĩa thứ hai của từ chỉ màu đỏ. Tại sao người ta lại liên hệ nóngrực rỡ với đỏ mà không phải với xanh hay các màu khác?

Trong thực tế, cái gì khiến chúng ta cảm thấy nóng? Ngoài không khí nóng do mặt trời tỏa nhiệt trong ngày nắng gắt, chắc chắn những thứ bị nóng đều do lửa. Như vậy là đỏ được nghĩ là nóng là bởi nó được liên tưởng đến lửa. Khái niệm lửa trong nhận thức của con người là dạng vật chất có nhiệt độ cao và phát nhiệt (nóng). Trong những kinh nghiệm cá nhân và trong tiềm thức của mọi người, mặc dù người ta không cần thiết phải nghĩ rằng màu của lửa là màu đỏ (tất nhiên, nó màu đỏ và xen lẫn cả màu vàng cam, thậm chí lửa của bếp gas có màu xanh), nhưng người ta lại có những liên hệ màu đỏ với lửa. Mặc dầu mối liên hệ giữa lửa và màu đỏ nằm rất sâu trong tiềm thức của con người, không giống những liên tưởng “ngay lập tức” như với máu son, nhưng không phải là dễ dàng khiến người ta quên đi mối liên hệ ấy.

Trong thực tế tiếng Việt, chúng ta có thể thấy rằng mối liên hệ giữa màu đỏlửa được minh chứng bằng sự tồn tại của rất nhiều những tổ hợp kiểu nóng-đỏ; than-đỏ; than-hồng, hay những cụm cố định như đỏ như lửa, nóng như than hồng,… Mặc dù luôn có một mẫu điển hình là máu hay son và cho dù xu hướng nhận thức của mọi người về màu của lửa có thể là màu đỏ, đỏ cam hay da cam thì cũng không làm mất đi mối liên hệ khái niệm giữa lửa và màu đỏ. Hơn nữa, chúng ta gần như không thấy máu thường xuyên như thấy lửa trong cuộc sống hàng ngày, và trong bất kỳ trường hợp nào, máu cũng gần như không nổi bật về mặt xúc giác như lửa, mặc dù nó nổi bật về mặt thị giác hơn. Thêm vào đó, một nghiên cứu trước đây của Swadesh [13, p.57] về mối liên hệ giữa đỏlửa, còn tìm ra một mối liên hệ từ nguyên học giữa đỏcháy (ardere) trong tiếng La tinh. Điều này cũng tương tự như trong tiếng Việt. Có thể nói, lửa có mặt trong mọi hoạt động của cuộc sống con người, thậm chí đã trở thành một biểu tượng trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam, bởi nói tới lửa là người ta nghĩ đến ánh sáng, hơi ấm và sức nóng, sự đốt cháy,… chính vì vậy mà từ màu sắc, ánh sáng, hơi ấm, sức nóng của ngọn lửa đã được người Việt dùng phương thức hoán dụ để chuyển sang nói về trạng thái và hành động đốt lửa, thắp đèn trong nghĩa phái sinh mới này.

Những phân tích trên đã phần nào cho thấy lý do của sự ra đời nghĩa ở trạng thái cháy hoặc làm cho ở trạng thái cháy, sáng từ đó thấy được cơ sở của sự chuyển nghĩa này của đỏ trong tiếng Việt chính là một “nét nghĩa ẩn” về một vật mẫu không điển hình (xét về mặt lý thuyết) nhưng lại rất nổi bật và có giá trị là LỬA. Đó cũng chính là cơ sở cho cách sử dụng nghĩa này trong đời sống: lửa đã đỏ lại bỏ thêm rơm, bếp đã đỏ lửa, nhà đã đỏ đèn,…

Bên cạnh những cách lý giải trên, cơ sở văn hóa của người phương Đông (cụ thể là thuyết Ngũ hành) trong việc coi màu đỏ thuộc hành hỏa (phương Nam), chủ về mùa hạ và ứng với biểu vật là lửa cũng là một căn cứ thêm cho cách giải thích bước phát triển nghĩa phái sinh này của từ chỉ màu đỏ.

Nghĩa phái sinh tiếp theo của từ chỉ màu đỏ “thuộc về cách mạng vô sản, có tư tưởng vô sản” là nghĩa thứ 3, theo sơ đồ phát triển nghĩa trên có thể thấy được dựa vào thuộc tính nào đó của hai vật mẫu máuson trong tiếng Việt.

Như chúng ta đã biết, máu là vật mẫu điển hình nhất cho màu đỏ, và điều này dường như là phổ quát trong nhiều ngôn ngữ, trong đó có tiếng Việt. Máu là hình ảnh lý tưởng nhất gợi đến màu đỏ, bởi theo quan điểm về sắc tố hay sinh học, máu tương ứng với màu đỏ, đại diện cho sự kết thúc một chu trình bắt đầu từ ánh sáng mặt trời màu vàng, qua giai đoạn trung gian là sự sống cây cỏ màu xanh lục. Trải dài từ màu vàng đến xanh, màu đỏ xuất hiện ứng với sự gia tăng của sắc tố sắt. Vì sự tương đồng giữa máu và màu đỏ, nên hiển nhiên cả hai có ý nghĩa tương hỗ nhau: thuộc tính mạnh mẽ của màu đỏ tràn ngập trong biểu tượng tính của máu và đặc tính cốt thiết của máu lại thể hiện ý nghĩa của màu đỏ. Nói tới đổ máu là nói tới chiến tranh, cách mạng và sự hy sinh (thường là cho lẽ phải). Điều này bắt nguồn từ cuộc Cách mạng Văn hóa tại Trung Quốc vào những năm 60 và 70 thế kỷ trước với những người lính được gọi là “Hồng vệ binh” (Người lính đỏ). Nói tới Cách mạng vô sản là nói cuộc đấu tranh đẫm máu giữa giai cấp công nhân - giai cấp nghèo và chính nghĩa (vô sản) - chống lại ách thống trị của giai cấp tư sản. Cờ đỏ là một hình ảnh của cách mạng vô sản bởi ý nghĩa liên tưởng cho sự “nhuộm máu của những người lính cảm tử”. Đây được coi là liên tưởng hoán dụ mang tính phổ quát trong nhiều ngôn ngữ.

Ngoài máu là vật mẫu phổ quát như đã được giải thích ở trên, trong tiếng Việt còn một vật mẫu khác là son cũng có thể coi là cơ sở của nghĩa phái sinh này. Son là một loại đá có màu đỏ, thường được mài ra để làm mực viết bởi nó đáp ứng tiêu chuẩn khó phai màu hay nói cách khác là rất bền màu. Chính bởi đặc điểm bền màu mà mực đỏ không dễ gì làm sạch được. Mặc khác, trong đời sống con người, son còn được sử dụng như vật làm đẹp của phụ nữ, bởi vậy màu giống màu của nó cũng được đánh giá là đẹp. Đó chính là màu đỏ: đỏ như son, môi son,… Theo dải liên tưởng này, thuộc tính không phai được lựa chọn để phái sinh thêm cách dùng mới trong tổ hợp lòng son - được xem là “(tấm) lòng ngay thẳng, trung trinh, trước sau không phai nhạt, đổi thay”. Từ biểu thị sự thủy chung, son sắt không đổi thay trong tình yêu nam nữ, lòng son đã chuyển sang biểu thị cả sự trung thành, trước sau như một cho lý tưởng cách mạng của giai cấp vô sản nói chung, khí phách của những người chiến sĩ cách mạng nói riêng trong đấu tranh giải phóng dân tộc. Điều này có thể nói cũng đã minh chứng được cho cách sử dụng ẩn dụ màu đỏ của son trong sự hình thành nghĩa phái sinh mới này của từ chỉ màu đỏ, tương tự như vật mẫu máu.   

Sau nghĩa phái sinh về sự liên tưởng màu đỏ với cách mạng vô sản, nghĩa phái sinh thứ tư và thứ năm với liên tưởng tới việc đánh bài không thuavận may, sự may mắn ngẫu nhiên ra đời, không có liên hệ gì với nghĩa phái sinh ngay trước nó (cách mạng vô sản).

Lý giải con đường hình thành nên nghĩa mới này trước tiên phải dựa vào mối quan hệ đối lập giữa đỏ đen, bởi từ chính mối quan hệ đối lập này có thể dẫn tới một số giải thích cho sự phát triển nghĩa thứ 4 này.

Trước tiên, có thể thấy, trong cuộc sống hằng ngày, mối quan hệ có tính đối lập này thể hiện rất rõ trong việc chơi bài (Tú lơ khơ, tổ tôm, tam cúc,…). Những quân bài trong các bộ bài này chỉ có hai màu đỏ đen, mà nguyên tắc chung của các kiểu chơi bài này đều là đỏ luôn có giá trị hơn đen, tức là cùng một quân bài, nhưng quân bài có nước cơ và rô (màu đỏ) luôn thắng được nước nhép và bích (màu đen), Tốt đỏ “ăn được” Tốt đen, Tượng đỏ chặn được Tượng đen,… (từ đây mới nảy sinh cách gọi thông tục khác của những trò chơi này chơi đỏ đen, trò đỏ đen, cuộc đỏ đen,…). Theo nguyên tắc này, có nhiều quân bài đỏ là đã có ưu thế hơn có nhiều quân bài đen và sẽ có nhiều cơ hội thắng thế hơn trong cuộc chơi, mà việc chiến thắng còn gắn liền với nhiều lợi lộc khác, nhiều may mắn khác. Thậm chí, kết quả của cuộc chơi còn có thể làm thay đổi cả vận mệnh, cuộc sống của người chơi - trở nên giàu có hay trở thành nghèo kiết xác có khi chỉ sau một cuộc đỏ đen. Thêm vào đó, việc có được quân bài đỏ hay đen chắc chắn không phụ thuộc vào mong muốn của người chơi mà thường là do may rủi (trừ phi gian lận). Vì vậy, khi ai đó thắng thì được coi là may mắn, ai thua thì bị coi là rủi ro, không may. Đây có thể là một trong những lý do dẫn tới cách sử dụng của đỏđen trong giao tiếp hàng ngày như dạo này ông ấy đỏ/đen lắm, bởi lúc đầu chỉ là thắng/thua trong trò chơi bài bạc, dần dần được sử dụng để chỉ người gặp được may mắn hoặc gặp phải rủi ro, bất hạnh trong mọi mặt của cuộc sống.

Tất nhiên, cách giải thích trên có thể là một cách giải thích hoàn toàn chủ quan, chính vì vậy, để xác định mối quan hệ đối lập giữa đỏ đen, chúng ta còn cần quan tâm tới một quan điểm khác, mang tính chất truyền thống của văn hóa phương Đông: đó là thuyết ngũ hành - mô hình 5 yếu tố về cấu trúc không gian của vũ trụ [10, tr.15]. Theo quan điểm này, ngũ hành có ứng rất rộng và khái niệm các hành rất đa nghĩa. Trong số các đa nghĩa này, đáng chú ý nhất là hệ thống các màu biểu và vật biểu theo ngũ hành xét về mặt văn hóa. Theo quan điểm này, trong số các màu biểu thì đen đỏ mang tính đối lập âm - dương rõ rệt nhất, nên ứng với hai hành là thủy hỏa (nước và lửa), trong đó lửa ứng với màu đỏ là biểu thị sự ấm áp, rực rỡ, sáng sủa, nên được đỏ, trong đó hai trong những đặc điểm nổi bật của lửa được lựa chọn cho việc biểu thị từ chỉ màu đỏ là thuộc tính nóng cháy. Chính vì vậy, có thể thấy cơ sở phát sinh thêm nghĩa mới này là có cơ sở từ nghĩa thứ hai của từ chỉ màu đỏ. Nóng và cháy là những dấu hiệu nguy hiểm (bắt nguồn từ hiểm họa mang tính hủy diệt của lửa). Chính vậy mà từ cấm lửa (màu ngọn lửa đỏ), màu đỏ đã được liên tưởng để chuyển sang nghĩa “màu của sự cấm đoán”. Đây cũng là cơ sở cho một loạt những biểu hiện về sự cấm đoán của màu đỏ trong các biểu vật như đèn đỏ trong hệ thống đèn giao thông - cấm đi; thẻ đỏ trong thể thao - cấm chơi tiếp (phạt),...

3. Kết luận

Thông qua việc tiến hành khảo sát về đặc điểm ngữ nghĩa của từ chỉ màu sắc đỏ trong các cuốn từ điển tiếng Việt, có thể thấy từ chỉ màu sắc đỏ mang đặc điểm chung của các từ chỉ màu tiếng Việt là những từ được dùng phổ biến, đơn giản về hình thức (đơn tiết), có phạm vi biểu vật rộng lớn.

Qua khảo sát toàn bộ các nghĩa gốc và nghĩa phái sinh của từ chỉ màu đỏ trong 7 cuốn Từ điển tiếng Việt qua các giai đoạn, có thể thấy, bên cạnh nghĩa gốc là nghĩa đầu tiên được định nghĩa theo lối so sánh trực quan - tức là tìm ra vật mẫu có thuộc tính nổi trội tương tự như thuộc tính của màu để so sánh (máu, son), từ chỉ màu sắc đỏ có khả năng chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ rất thú vị, tạo nên nhiều nghĩa phái sinh ngoài nghĩa gốc (tổng hợp các nghĩa phái sinh của từ này trong 7 cuốn từ điển cho thấy có thêm 6 nghĩa phái sinh ngoài nghĩa gốc). Các quá trình chuyển nghĩa của đỏ bắt nguồn từ nhận thức của con người trong mối quan hệ giữa màu sắc đó với các đối tượng trong cuộc sống, để từ đó có sự thay đổi về ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm trong bản thân chúng. Đó là một quá trình con người nhận thức ngày một sâu sắc thế giới hiện thực bằng cách tạo ra cho từ ngữ những mối liên hệ, quan hệ mới nhờ những nhận thức mới của mình về thế giới hoặc tạo ra những khả năng kết hợp mới cho những đơn vị ngôn ngữ đã có. Những quá trình này chính là quá trình biểu trưng hóa của tín hiệu - một quá trình vốn có nguồn gốc tâm lý của nó trong đời sống xã hội, và được ghi lại một cách tế nhị, độc đáo trong ngôn ngữ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Đỗ Hữu Châu, Từ vựng, ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2009.

[2] Lê Văn Đức (Chủ biên), Tự điển Việt Nam, Nhà sách Khai trí, Sài Gòn, 1970.

[3] Trịnh Thị Thu Hiền, Một số đặc điểm của các đơn vị từ chỉ màu sắc cơ bản tiếng Việt trong Những vấn đề về ngôn ngữ học, Kỷ yếu Hội nghị Khoa học 2001, Viện Ngôn ngữ học, Phòng Thông tin Ngôn ngữ học, 2002.

[4] Hội Khai trí Tiến Đức, Việt Nam tự điển, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1932.

[5] Nguyễn Lân, Từ điển tiếng Việt, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998.

[6] Thanh Nghị, Việt Nam tân từ điển, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1952.

[7] Hoàng Phê (Chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2000.

[8] Văn Tân (Chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1967.

[9] Đào Văn Tập, Tự điển Việt Nam phổ thông, Nxb. Bonard, Sài Gòn, 1952.

[10] Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2000.

[11] Lê Quang Thiêm, Ngữ nghĩa học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2008.

[12] Nguyễn Đức Tồn, Tìm hiểu đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy của người Việt (trong sự so sánh với các dân tộc khác), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2002.

[13] Wierzbicka A., Meanings of the colour terms: Semantic, culture and cognition, Cognitive Linguistics 1, 1: 99-150, 1990.

[14] Ember M., Size of colour lexicon: Interaction of cultural and biological foactors, American Anthropologist, 80, 364-367, 1978.

[15] Hardin C.L. & Maffi L., Color Categories in Thought and Language, Cambridge; New York: Cambridge University Press, 1997.

[16] Kay P. & McDaniel Ch., The linguistic significance of the meaning of Basic colour terms, Language, volume 54, numbers 1978

[17] Dougherty Janet W.D., A universalist analysis of variation and change in colour semantics, Ph. Dissertation, University of California, Berkeley, 1975.

 

TRỊNH THỊ THU HIỀN