MỤC TỪ “FERDINAND DE SAUSSURE” TRONG BỘ BÁCH KHOA THƯ QUỐC TẾ VỀ NGÔN NGỮ HỌC

19/11/2021

FERDINAND DE SAUSSURE, sinh ra tại Geneva (Thụy Sỹ) vào ngày 26.11.1857 và mất tại đó vào ngày 22.02.1913. Hầu hết mọi người đều xem ông là người sáng lập ra ngôn ngữ học hiện đại, cụ thể là cấu trúc luận. Sinh ra trong một gia đình có những nhà khoa học và học giả xuất chúng thuộc ngành tự nhiên, ông theo học tại Trường Đại học Leipzig từ năm 1876 - 1878, nơi mà những nhà ngữ pháp mới đang trong quá trình tạo lập lại ngành ngữ văn so sánh. Sau đó, ông giảng dạy ở Paris tại École des Hautes Études (1881 - 1891), và ở Geneva từ 1891 đến khi mất, chủ yếu giảng dạy về tiếng Phạn (Sanskrit) và ngôn ngữ học Ấn - Âu.

Phân tích về sự nghiệp của Saussure và lịch sử tiếp nhận của sự nghiệp đó còn nhiều vấn đề tranh luận. Tuy nhiên, ông cùng với Noam Chomsky có thể được xem là hai nhà ngôn ngữ học có ảnh hưởng nhất của thế kỷ XX, mặc dầu ông chỉ có một cuốn sách duy nhất là Mémoire (được xuất bản năm 1878, lưu chiểu năm 1879), một chuyên khảo có tính chuyên môn cao về hệ thống nguyên âm gốc của ngôn ngữ Ấn - Âu Gốc (Proto-Indo-European). Tầm ảnh hưởng và sự nổi tiếng hơn của ông dựa vào một công trình được xuất bản sau khi ông mất là Cours, được biên soạn bởi các đồng nghiệp và học trò của ông (Charles Bally và Albert Sechehaye, với sự giúp đỡ của Albert Riedlinger), được tổng hợp lại từ các bài giảng về ngôn ngữ học đại cương   mà ông đã giảng trong ba khóa học từ năm 1907 đến 1911.

Công trình Cours de linguistique générale (Saussure 1916) đưa ra một giả thuyết về các quan điểm của Saussure xuất hiện một cách đặc biệt rõ ràng và sắc sảo. Đó là một nguồn cảm hứng mạnh mẽ đối với cả các lý thuyết đổi mới của các trường phái Prague, Copenhagen, và cả sự bùng nổ các công trình thuộc chủ nghĩa cấu trúc ở Paris trong ngành khoa học nhân văn trong suốt những năm 1960. Các khía cạnh chính mà ở đó công trình Cours ảnh hưởng tới tư tưởng về ngôn ngữ học sau này có thể được tóm tắt trong những ý sau đây: cái biểu đạt với cái được biểu đạt, hai thành tố của kí hiệu ngôn ngữ học, với sự phổ biến tất yếu của thành tố trước, thành tố này là đối tượng điển hình của việc điều tra về ngôn ngữ học, hơn thành tố sau; đồng đại với lịch đại, nhấn mạnh sự ưu tiên của thành tố trước hơn là thành tố sau, ngược với xu hướng truyền thống của ngôn ngữ học so sánh; ủng hộ sự xử lý thuộc lịch sử ngôn ngữ với lời nói, với sự tập trung vào việc nghiên cứu thành tố trước, khía cạnh trừu tượng, mang tính hệ thống, tập hợp của ngôn ngữ, hơn là thành tố sau, sự biểu thị cụ thể, mang phong cách riêng, mang tính cá nhân của các hoạt động ngôn từ cụ thể; và sintagmatic (quan hệ ngữ đoạn) với paradigmatic (quan hệ ngữ hình) (thuật ngữ sau có được nhờ Louis Hjelmslev, thay thế “quan hệ liên tưởng” của Saussure), phân biệt sự cùng tồn tại (tương phản) của các yếu tố trong một thông điệp từ yếu tố đối lập trong hệ thống. Tuy nhiên, việc hiểu chính xác những ý niệm này thật mơ hồ, bởi vì việc trình bày rõ ràng chính xác phần lớn dựa vào những người biên tập của Saussure. Một sự nỗ lực lớn đã được đưa ra để gỡ rối cho những vấn đề này (Godel 1957; Saussure 1967 và 1967 - 1974; những lần tái bản công trình Cours của Engler và De Mauro; và Bouquet 1997, công trình này nhằm vào việc chỉ ra rằng phương pháp tiếp cận của Saussure mang tính triết học hơn và ít theo chủ nghĩa kinh nghiệm hơn những gì mà những nhà biên tập của ông ngụ ý).

Luận án của Saussure (1879) là một sự thể hiện sớm sự phát triển về tài năng của ông, báo trước phương pháp cấu trúc luận mà truyền cảm hứng cho những quan điểm của ông về ngôn ngữ học đại cương. Những bài viết của ông đã được thu thập và in ra (Saussure 1922), cùng với Mémoire, sau khi ông mất. Thậm chí trước khi có công trình Mémoire, Saussure cho rằng sự thể hiện của a trong các từ tiếng Phạn, nơi mà các từ cùng gốc trong các ngôn ngữ Ấn - Âu khác có e hoặc o, là một sự phát triển thay vì, như là suy nghĩ chung, một đặc trưng bảo thủ. Công trình Mémoire, cũng tạo nên cách sử dụng nổi bật các công thức trừu tượng để minh họa những điều khái quát trong ngôn ngữ học, giới thiệu một vài gợi ý có ảnh hưởng sâu xa mà đi đến khai hoa kết trái sau đó trong công trình của Jerzy Kuryłowicz và Émile Benveniste.

Saussure cũng quan tâm tới các phép đảo chữ - cái mà ông gọi là “hypograms” hay “paragrams”, những thứ mà ông nghĩ ông đã nhận biết được trong thơ ca La-tinh cổ xưa và các truyền thống thơ ca khác. Phép thơ này có ở trong việc phân tích các tên nhất định và các thuật ngữ chính thành các âm tiết và các hình vị của chúng, được đặt rải rác mà có thể nhìn thấy được ở trong cấu trúc âm vị của câu thơ. Saussure đã dành rất nhiều thời gian và cống hiến công sức cho những nghiên cứu này, mặc dầu không vượt qua được những nghi ngờ của chính bản thân ông. Cuối cùng, ông hy vọng tìm ra bằng chứng rằng kỹ thuật của phép đảo chữ cái này đã được mã hóa một cách kín đáo thành các quy tắc bí truyền, được truyền lại bởi các nhà văn qua các thế hệ. Những bài viết của ông về chủ đề này vẫn chưa được in cho tới khi chúng được biên tập bởi Starobinski 1971 và những người khác, và đã nhận được một sự thúc đẩy mạnh mẽ từ Roman Jakobson 1979:221, người mà nhận thấy chúng phù hợp với sự phát hiện của chính ông về các mô hình ngữ âm tinh tế và phức tạp trong các văn bản thơ ca.

[Cũng xem Lịch sử Ngành Ngôn ngữ học (History of Linguistics), mục từ về Cấu trúc luận (Structuralism)].

GIULIO LEPSCHY

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Bright William (Editor), International Encyclopedia of Linguistics - First Edition, Oxford University Press, New York, 1992.

[2] Frawley William J. (Editor), International Encyclopedia of Linguistics - Second Edition, Oxford University Press, New York, 2003.

 

 

LÊ THỊ HẢI CHI