NHẬN DIỆN BÁCH KHOA THƯ CHUYÊN NGÀNH

19/11/2021

Tóm tắt: Bách khoa thư chuyên ngành là một dạng công trình tra cứu và học tập, cung cấp và giới thiệu một cách hệ thống các thông tin tri thức về một hoặc một số ngành khoa học. Ở nước ta hiện nay, bách khoa thư chuyên ngành có xu hướng phát triển mạnh mẽ, việc nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận đang được đặt ra nhằm đáp ứng nhu cầu của người biên soạn và nghiên cứu. Bài viết đề cập đến một số vấn đề về lý luận bách khoa thư chuyên ngành như: khái niệm, đặc trưng, chức năng, phân loại và cấu trúc của loại hình bách khoa thư chuyên ngành.

Từ khóa: Nhận diện, bách khoa thư, chuyên ngành.

Abstract: The specialized encyclopedias are a type of researching and studying work that provides and introduces systematically the intellectual information about one or several scientific disciplines. At present, in our country, the specialized encyclopedias tend to develop strongly, researching the theoretical issues is being raised to meet the needs of compilers and researchers. The article mentions some issues on the theory of the specialized encyclopedias, such as concepts, characteristics, functions, classification and structure of the specialized encyclopedias.

Keywords: Identification, encyclopedia, speciality.

 

1. Mở đầu

Bách khoa thư (BKT) chuyên ngành là công trình tra cứu giúp việc hệ thống hóa thông tin tri thức khoa học một cách lớp lang, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, học tập của người sử dụng. Trên thế giới, việc biên soạn bách khoa thư chuyên ngành (BKTCN) đã có quá trình hình thành, phát triển lâu dài và đạt được những thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về vấn đề lý thuyết loại hình BKTCN lại ít được đề cập đến, điều này khiến cho việc tìm hiểu, đánh giá, xây dựng mô hình về một công trình BKTCN gặp không ít khó khăn. Việc làm rõ vấn đề lý luận sẽ góp phần lý giải những phương diện cơ bản của loại hình BKTCN.

2. Khái niệm bách khoa thư chuyên ngành

Trong từ điển học, có một khái niệm là “specialised lexicography”, có thể dịch là từ điển học chuyên ngành. Tác giả R.R.K. Hartmann và Gregory James trong công trình Từ điển về từ điển học [10], khái niệm “từ điển học chuyên ngành” được xác định là: “Một phức hợp các hoạt động liên quan đến việc thiết kế, biên soạn, sử dụng và đánh giá các từ điển chuyên ngành. Không có khuôn khổ thống nhất cho vấn đề này vì bản chất và phạm vi của các công trình tham khảo đó có thể bao gồm nhiều loại, từ một bảng từ ngắn gọn không có định nghĩa, qua các từ điển kỹ thuật hướng đến người không có chuyên môn, cho đến các cơ sở dữ liệu mang tính thuật có quy mô lớn và được chuẩn hóa dành cho các chuyên gia và dịch giả của một ngành chuyên môn”. Trong định nghĩa trên, thuật ngữ “từ điển chuyên ngành” (specialised dictionary) cũng được định nghĩa trong công trình Từ điển này là: “Thuật ngữ chung cho một loạt các công trình tra cứu dành cho một tập hợp các hiện tượng tương đối hạn chế. Trái ngược với từ điển chung/phổ thông (general dictionary), có mục đích bao phủ toàn bộ từ vựng cho người dùng “phổ thông”, từ điển chuyên ngành (hoặc “phân đoạn”) tập trung vào thông tin hạn chế hơn, như đặc ngữ hoặc tên gọi hoặc ngôn ngữ thuộc một lĩnh vực chủ đề cụ thể, chẳng hạn như biệt ngữ của những người nghiện ma túy hoặc các thuật ngữ kỹ thuật của kỹ thuật cơ học”. Như vậy, theo định nghĩa và sự phân loại này, BKT cũng được chia thành hai loại, BKT chung/hay BKT tổng hợp (general encyclopedia) và BKTCN (specialized encyclopedia).

Về khái niệm BKTCN (specialized encyclopedia), trên hệ thống thông tin điện tử của Thư viện trường Oregon viết: “BKTCN là công trình tra cứu cung cấp thông tin thực tế về hầu hết mọi chủ đề nhưng tập trung vào một lĩnh vực nghiên cứu. Ví dụ, có những bộ bách khoa toàn thư (BKTT) chuyên biệt chỉ tập trung vào động vật và những bộ khác chỉ tập trung vào người Mỹ bản địa. Mỗi mục là một bài viết được viết bởi một hoặc nhiều chuyên gia. BKTCN có thể là một cuốn sách hoặc một bộ sách” [12]. Sự khác biệt cơ bản giữa BKT tổng hợp và BKTCN ở chỗ: BKT tổng hợp chứa thông tin về nhiều chủ đề, ví dụ như Bách khoa toàn thư Britannica; trong khi đó, BKTCN chỉ nói về một chủ đề riêng biệt.

Ở Việt Nam, khái niệm BKTCN cũng đã được một số nhà khoa học trong nước đề cập đến. Theo tác giả Hà Học Trạc: “Bách khoa toàn thư chuyên ngành trình bày và giới thiệu những tri thức thuộc một chuyên ngành rộng, một chuyên đề hẹp hay một ngành hành chính sự nghiệp. Ví dụ: về quân sự, nông nghiệp, y học, kinh tế,... về vũ thuật, nấu ăn,... về hải quan, du lịch,...” [6, tr.60].  Như vậy, BKTCN là công trình tra cứu, giới thiệu thông tin tri thức ở các cấp độ rộng, hẹp thuộc từng chuyên ngành.

Trong sách Lý luận, phương pháp luận Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam - Một số vấn đề cơ bản có đề cập bách khoa chuyên ngành là công trình “trình bày tri thức về một ngành khoa học, kỹ thuật, văn hóa, nghệ thuật nhất định (hoặc một bộ môn của một ngành khoa học, một chuyên đề nào đó” [8, tr.52]. Các tác giả đã nhấn mạnh BKTCN là công trình giới thiệu tri thức của các ngành khoa học khác nhau, trong đó gồm các ngành thuộc khối khoa học, kỹ thuật, văn hóa hay nghệ thuật.

Tác giả Nguyễn Kim Thản cho rằng: “Loại BKTCN chứa đựng tri thức về một ngành khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật nhất định như BKT về kỹ thuật, nông nghiệp, y học, triết học, sử học, văn học, quân sự, âm nhạc, mỹ thuật, địa lý,… Cũng còn có thể phân chia ra từ các BKTCN một loại nhỏ nữa, tạm gọi là BKT chuyên đề. Loại này chứa đựng những tri thức về một chủ đề khoa học - kỹ thuật, nghệ thuật nhất định hay về một hoạt động thực tiễn nhất định. Thí dụ các BKT về “Cách mạng tháng Mười”, về “Thần thoại thế giới”, về “Tiếng Nga”, về “Công việc gia đình”, v.v. đã xuất bản ở Liên Xô, hoặc các BKT về “tên người”, “đồ mộc”, “công việc gia đình”, “tiếng Pháp chuẩn mực”, “điện tử”, “việc lặt vặt”,… ở Pháp, về “những điều chưa biết”, về “hành vi giới tính”,… ở Mỹ,…” [4]. Tương tự như quan niệm của các tác giả trên, tác giả Nguyễn Kim Thản đã đề cập đến việc mỗi công trình BKTCN chứa đựng thông tin tri thức về một ngành nào đó, có thể là khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật hay về một hoạt động thực tiễn.

Từ các định nghĩa và quan niệm nêu trên, có thể hiểu: BKTCN (specialized encyclopedia) là một loại hình BKT có chức năng hệ thống hoá và cung cấp thông tin tri thức một cách khoa học về các ngành, chuyên ngành và phân ngành khoa học đã được kiểm chứng, hướng đến đối tượng sử dụng là những người có chuyên môn hoặc muốn tìm hiểu sâu về một chuyên ngành.

3. Đặc trưng của bách khoa thư chuyên ngành

Ngoài những đặc tính chung của BKT, BKTCN còn có một số đặc tính riêng biệt như sau:

Tính chuyên ngành: BKTCN hướng đến đối tượng tiếp nhận là những người đang học tập, nghiên cứu chuyên sâu về một chuyên ngành hoặc một phân ngành khoa học nào đó. Vì vậy, đặc tính của loại BKT này là tính chuyên ngành cao. Trong quá trình tổ chức biên soạn, soạn giả phải là các chuyên gia có trình độ chuyên sâu, có thể khai thác và tổng hợp các kết quả nghiên cứu khoa học về từng chuyên ngành, đáp ứng nhu cầu của người sử dụng. Nguồn tư liệu để biên soạn cũng cần có nguồn gốc từ các công trình, tác phẩm tiêu biểu của ngành. Các đầu mục và các thông tin trong các mục cần tập trung vào chuyên ngành, không chung chung, không thể xếp vào BKT ngành nào cũng được.

Tính chính xác: Bất cứ công trình BKT nào cũng cần cung cấp các thông tin tri thức chính xác. Để thực hiện được yêu cầu này, các soạn giả cần căn cứ vào nguồn tư liệu đã được xác tín, lựa chọn được các luận điểm khoa học mang tính khách quan. Trong quá trình biên soạn BKTCN, sẽ có rất nhiều luận điểm khoa học cần phải có sự cân nhắc, chọn lựa kỹ lưỡng, thống nhất từ các nhà biên soạn, có thể ưu tiên lựa chọn kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học tên tuổi và có nhiều thành tựu khoa học lớn. Tính chính xác đảm bảo cho thông tin tri thức có độ tin cậy cao, cung cấp các nội dung hữu ích cho người sử dụng.

Tính cập nhật: Tính cập nhật sẽ đảm bảo cho công trình BKTCN cung cấp các tri thức mới nhất, bám sát các kết quả nghiên cứu khoa học của các chuyên ngành. Hiện nay, trên thế giới, các ngành khoa học có sự phát triển nhanh chóng, đặc biệt là ở các ngành khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ như điện tử viễn thông, công nghệ thông tin, hóa học, sinh học,… Một số kết quả nghiên cứu khoa học mới đã làm thay đổi nhận thức khoa học trước đây, thậm chí có các kết quả đối lập lại với quan niệm cũ. Do vậy, các soạn giả trong khi tiến hành biên soạn BKTCN cần có sự bao quát và cập nhật tri thức. Điều này mang lại tính hiện đại, hấp dẫn, đáp ứng nhu cầu tra cứu của người sử dụng BKTCN. Ví dụ: Từ điển bách khoa nông nghiệp, do Trung tâm Quốc gia biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản năm 1991 có 3.000 mục từ thuộc các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, thủy nông, kinh tế nông nghiệp, cơ điện nông nghiệp, thủy sản, bảo quản chế biến nông sản. Từ điển bách khoa nông nghiệp Việt Nam, Học viện Nông nghiệp, 2011, gồm hơn 10.000 mục từ, bổ sung các từ ngữ thuộc các lĩnh vực trên, đồng thời đề cập đến một số vấn đề mới có liên quan như biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học, sinh vật chuyển gen, sinh vật ngoại lai xâm hại.

4. Chức năng của bách khoa thư chuyên ngành

Bên cạnh các chức năng của BKT nói chung, chức năng của BKTCN có một số đặc điểm nổi bật như sau:

Thứ nhất, BKTCN có chức năng cung cấp thông tin tri thức nền và tri thức chuyên sâu về một ngành hoặc một chuyên ngành khoa học. Đây là chức năng riêng của loại BKT này so với BKT tổng hợp và các loại từ điển ngôn ngữ. Những tri thức này có thể cũng xuất hiện trong các BKT tổng hợp nhưng ở một mức độ khái quát hơn, còn trong từ điển ngôn ngữ, có lẽ đó sẽ chỉ là một câu định nghĩa ngắn gọn. 

Thứ hai, BKTCN có chức năng giáo dục cao, hướng đến phục vụ đối tượng sử dụng là người học, người dạy, người nghiên cứu trong từng chuyên ngành khoa học. Trong khi BKT tổng hợp hướng đến đối tượng sử dụng là đông đảo công chúng, BKTCN ra đời chủ yếu nhằm phục vụ cho những người trong một ngành chuyên môn, dùng để tra cứu và học tập. Như trên đã trình bày, giống như thuật ngữ, BKTCN có khả năng cung cấp thông tin tri thức về các ngành khoa học ở các cấp độ khác nhau, từ sơ cấp, trung cấp cho đến cao cấp. Các công trình BKTCN có khả năng bổ sung cho BKT tổng hợp những tri thức khoa học của từng ngành, tác giả Hà Học Trạc từng khẳng định: “BKTT chuyên ngành là loại hình quan trọng và cần thiết, bổ sung cho các BKTT tổng hợp. Nếu BKTT tổng hợp phục vụ cho những đối tượng không chuyên thì BKTT chuyên ngành chủ yếu thoả mãn nhu cầu của những độc giả trong ngành. Tuy trong BKTT tổng hợp cỡ lớn đã có những tri thức khái quát, toàn diện, đầy đủ về từng chuyên ngành như: nông nghiệp, y dược học, kinh tế, quân sự và các chuyên ngành kỹ thuật,... nhưng song song vẫn phát triển biên soạn các BKTT chuyên ngành, thường với quy mô lớn hơn nhiều, gấp từ 4 - 5 lần đến 7 - 8 lần và với những chủ đề chuyên sâu hơn” [6, tr.70].

Thứ ba là chức năng chuẩn hóa thuật ngữ và tri thức chuyên ngành. Thông qua bảng đầu mục từ, các thuật ngữ, tên gọi của ngành được các chuyên gia lựa chọn, chuẩn hóa. Đồng thời trong mỗi mục, hệ thống thông tin tri thức được tổng hợp, sắp xếp và cũng được chuẩn hóa. Hai phần việc này sẽ góp phần giúp người dùng nắm bắt một cách chính xác và rõ ràng hơn những tri thức cơ bản và chuyên sâu của mỗi ngành. Người dùng có thể dựa vào BKTCN để tìm những luận cứ vững chắc, minh chứng cho những lập luận của mình.

Thứ tư, BKTCN có chức năng lưu giữ tri thức khoa học tại một thời kỳ lịch sử. BKTCN lưu giữ và phản ánh tri thức khoa học của ngành tại một thời kỳ lịch sử nhất định. Với sự phát triển của khoa học, theo thời gian, các tri thức cũng sẽ có những sự thay đổi, và điều đó cần được cập nhật, bổ sung, chỉnh sửa trong các phiên bản khác nhau. Khi tiến hành biên soạn, các soạn giả sẽ căn cứ trên tư liệu khoa học mới nhất đã được công bố, điều này cho thấy, mỗi mục sẽ là sự tổng hợp và hệ thống hóa tri thức khoa học trong một giai đoạn lịch sử mà công trình được biên soạn.

Như vậy, về mặt chức năng, BKTCN đóng vai trò bổ sung cho BKT tổng hợp, cung cấp những tri thức nhằm thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng có chuyên môn. BKTCN hướng tới đối tượng sử dụng có phần chọn lọc so với BKT tổng hợp.

5. Phân loại bách khoa thư chuyên ngành

Nhìn từ phương diện cấp độ tri thức khoa học của các ngành, có thể phân thành: bách khoa thư các nhóm ngành, bách khoa thư chuyên ngành và bách khoa thư phân ngành. Bách khoa thư nhóm ngành như: bách khoa thư về khoa học tự nhiên, bách khoa thư về khoa học công nghệ, bách khoa thư về khoa học xã hội, bách khoa thư về khoa học nhân văn, bách khoa thư về văn hóa nghệ thuật, bách khoa thư về an ninh, bách khoa thư về quốc phòng. Ví dụ, ở Anh có BKTT về khoa học và công nghệ, Nxb. Mc Graw - Hill, xuất bản lần đầu năm 1960, bản in lần thứ 9 năm 2002 gồm 19 tập nội dung và 1 tập sách dẫn, sách bao gồm 87 chủ đề lớn về khoa học và công nghệ; BKT về khoa học xã hội quốc tế do David L. Sills và Robert K. Merton biên tập, xuất bản lần đầu năm 1968, gồm 17 tập với hàng nghìn mục được viết bởi các học giả trên khắp thế giới. Ở Việt Nam, chưa thấy nhiều những BKT dạng nhóm ngành như vậy.

Bách khoa thư chuyên ngành có nội dung tri thức về một ngành nhất định. Đó là những công trình như: Kirsten Malmkjaer (1991), Linguistics Encyclopedia (Bách khoa thư Ngôn ngữ học), David R. Henderson (2007), The concise Encyclopedia Economics, Bách khoa thư Chính trị học, Bách khoa thư Triết học,…  Phân ngành là lĩnh vực nhỏ trong chuyên ngành, khi có mặt trong BKTCN, một phân ngành có thể chỉ là một mục, nhưng khi đứng với vai trò là một công trình tra cứu độc lập thì trong một phân ngành sẽ bao gồm nhiều vấn đề nhỏ khác liên quan. Ví dụ: BKT văn học là một BKTCN, còn BKT văn học trung đại là một BKT phân ngành. Tương tự với cách phân loại này, tác giả Nguyễn Kim Thản cho rằng: “Loại chuyên ngành chứa đựng tri thức về một ngành khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật nhất định như BKT về kỹ thuật, nông nghiệp, y học, triết học, sử học, văn học, quân sự, âm nhạc, mỹ thuật, địa lý,… Cũng còn có thể phân chia ra từ các BKTCN một loại nhỏ nữa, tạm gọi là BKT chuyên đề. Loại này chứa đựng những tri thức về một chủ đề khoa học - kỹ thuật, nghệ thuật nhất định hay về một hoạt động thực tiễn nhất định” [4].

Nhìn từ góc độ đối tượng sử dụng, có thể phân thành BKTCN dành cho các lứa tuổi khác nhau như: trẻ em/học sinh (các cấp); thanh niên/sinh viên; người lớn hoặc hướng đến đối tượng sử dụng bình dân (người dùng có trình độ phổ thông) hay mang tính hàn lâm (các nhà chuyên môn, giảng viên, nhà nghiên cứu,…). Các BKTCN dành cho các lứa tuổi khác nhau cũng khác nhau khá nhiều, từ hình thức trình bày đến nội dung biểu đạt. Ở Pháp, đã có nhiều BKTCN dành cho các lứa tuổi khác nhau. Ví dụ: BKT âm nhạc dành cho người dùng phổ thông: Larousse de la musique/Encyclopedie, 2 Volumes, Dufourcq, 1957; dành cho thanh niên: Encyclopedie des jeunes, Larousse La musique, Mantovani Alberto Larousse, 1999; Alexander Buchner Barbora Faure (Autre), GRÜND, 2008; dành cho trẻ em: Ma baby encyclopedie, Larousse Les instruments de musique, Elisabeth de Lambilly Sophie Verhille; BKT toán học, gồm 3 tập: L'encyclopédie méthodique: mathématiques, 3 volumes, Condorcet, l'abbé Bossut et Lalande, 1784 et 1789; BKT Toán - Tin dành cho thanh niên: Encyclopédie des jeunes Larousse, Mathématiques et informatique, Françoise Vibert - Guigue, Brigitte Bouhet, Larousse,…

Đối với những đối tượng sử dụng khác nhau, đầu mục được đưa vào và nội dung cấu trúc vi mô sẽ khác nhau, bình dân hay hàn lâm. Hai cuốn BKT ngôn ngữ học sau có thể minh họa cho sự khác biệt này: Cuốn The Cambridge Encyclopedia of Language (David Crystal, 1994, 1997, 2010) hướng đến đối tượng sử dụng là những thế hệ học sinh và công chúng bình dân. Vì thế, các chủ đề lớn của nó là các tư tưởng thông dụng về ngôn ngữ, ngôn ngữ và đặc trưng, cấu trúc của ngôn ngữ, nói, nghe, viết, đọc, tín hiệu, thụ đắc ngôn ngữ, cơ sở thần kinh về ngôn ngữ, các ngôn ngữ trên thế giới. Ở lần tái bản thứ hai, tác phẩm được bổ sung thêm các chủ đề về dịch máy, tương tác lời nói với máy, và việc giảng dạy ngôn ngữ. Ngoài ra còn có các tư liệu mới và cập nhật bản đồ phân bố ngôn ngữ, thống kê ngôn ngữ nói, bảng các ngôn ngữ trên thế giới. Đây đều là những vấn đề ngôn ngữ học ứng dụng. Cuốn The Linguistics Encyclopedia của Kirsten Malmkjaer (1991) được xác định là có giá trị cho những ai có mối quan tâm về ngôn ngữ học hoặc nghiên cứu ngôn ngữ một cách hàn lâm và chuyên nghiệp. Các từ đầu mục bao phủ khá rộng các vấn đề lý thuyết ngôn ngữ như trường phái ngôn ngữ học, các chuyên ngành ngôn ngữ học, các hiện tượng ngôn ngữ học, các vấn đề lớn trong ngành ngôn ngữ: cú pháp học, hình thái học, âm vị học, ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học tâm lý, ngôn ngữ học lịch sử, hệ thống chữ viết, tri nhận ngôn ngữ và trị liệu ngôn ngữ (speech therapy).

 Nhìn từ góc độ quy mô công trình, có thể phân thành: BKTCN cỡ lớn, BKTCN cỡ vừa, BKTCN cỡ nhỏ. Nhà nghiên cứu Nguyễn Kim Thản cho rằng: Các BKTCN cũng có các cỡ lớn, nhỏ, song không phải là BKTCN có quy mô nhỏ hơn hoặc có số tập ít hơn BKT tổng hợp. Ví dụ, ở Trung Quốc có công trình BKT Kỹ thuật cỡ lớn gồm 36 tập; BKT Y học cỡ lớn gồm: 35 tập; BKT Lịch sử gồm 16 tập; bộ Le Million của Pháp nói về địa lý các nước gồm 17 tập. Về BKT cỡ nhỏ, ở Liên Xô có công trình BKT Y học gồm 12 tập, Bách khoa tư Văn học tóm tắt gồm 9 tập,… Các bách khoa phân ngành thường không phân biệt lớn nhỏ, ở Liên Xô, bộ Nghệ thuật của các nước và các dân tộc trên thế giới gồm 5 tập, bộ Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại, 1 tập; quyển Tiếng Nga chỉ là một quyển sách nhỏ, khổ13x19cm.

Nhìn từ góc độ phương tiện truyền đạt thông tin, có thể phân thành: BKTCN bản in giấy; BKTCN bản điện tử (đĩa CD - offline); BKTCN trực tuyến (online). Thực tế ở trong nước và trên thế giới, người đọc có thể tra cứu một cách thuận tiện và dễ dàng thông tin tư liệu bằng hình thức trực tuyến, sách điện tử, hoặc có thể qua bản in giấy truyền thống các BKTCN.

6. Cấu trúc bách khoa thư chuyên ngành

6.1. Cấu trúc vĩ mô

Cấu trúc vĩ mô của BKTCN là bảng đầu mục biểu hiện cụ thể của việc phân loại tri thức các chuyên ngành.

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, đã có một số nhà nghiên cứu chuyên sâu về cấu trúc vĩ mô của các loại BKTCN. Các tác giả trình bày một cách cụ thể đặc điểm cũng như phương pháp lập bảng đầu mục công trình BKT của mình. Chẳng hạn, về phương pháp lập bảng từ cho BKT Công an Nhân dân Việt Nam, tác giả Đỗ Văn Hoan [2] nêu ra một số cách như sau: dựa vào các bộ giáo trình, từ các chương, mục, tiết biên soạn lại thành các mục từ BKT và sắp xếp lại; dựa trên cơ sở các cuốn từ điển, loại bỏ những từ thuần túy ngôn ngữ, giữ lại những mục từ có nội dung tri thức bách khoa để làm mục từ BKT và bổ sung thêm những khái niệm, những từ có tính bách khoa; dựa trên cơ sở phân loại khoa học.

Tác giả Nguyễn Như Trang [9] đề xuất hướng tiếp cận bảng từ và cách sắp xếp các mục từ cho sách dạng BKT cho học sinh phổ thông về lĩnh vực Văn học bằng những cách sau: biên soạn mục từ chia theo lớp học, từ lớp 6 đến lớp 12; biên soạn mục từ theo thứ tự chữ cái ABC; biên soạn mục từ theo thể loại văn học; theo giai đoạn văn học; theo hướng phân vùng địa lý văn học.

Tác giả Tạ Văn Thông cho rằng việc sắp xếp bảng đầu mục trong BKT nói chung: “[...] do yêu cầu hệ thống hóa kiến thức, chúng có thể được tập hợp theo các khối theo chủ đề tri thức chuyên biệt: ngành học thuật hay bộ môn khoa học, khuynh hướng, trường phái, thời kỳ, thể loại, tác phẩm, danh nhân và nhân vật, sự kiện, khái niệm, tổ chức…, tức là theo bảng cấu trúc phân loại khoa học đối với các mục từ. Trong mỗi chủ đề như vậy, các mục từ lại được sắp xếp theo những quy ước chung hoặc có thể riêng tùy theo tính chất của mỗi loại chủ đề” [5, tr.104].

Như vậy, có thể thấy bảng đầu mục của BKTCN được lập ra căn cứ trên các nguồn sau: dựa trên sự phân loại tri thức và khoa học của các ngành và bộ môn; dựa trên các cuốn từ điển thuật ngữ, BKTCN; dựa trên các ấn phẩm đã công bố như: giáo trình, sách, báo chuyên môn. Bảng đầu mục là những đơn vị ngôn ngữ mang tính bách khoa, thuộc về một chuyên ngành hoặc một lĩnh vực của chuyên ngành. Các đầu mục nằm trong một hệ thống phân loại khoa học của ngành đó, chúng có thể được sắp xếp theo chủ đề, hoặc theo trật tự bảng chữ cái.

6.2. Cấu trúc vi mô

Cấu trúc vi mô của BKTCN là nội dung thông tin trong mỗi mục, bao gồm: tên mục, định nghĩa, các thông tin mang tính bách khoa về đầu mục (bao gồm cả kênh chữ và kênh hình). Có một số điểm cần lưu ý khi biên soạn các mục trong BKTCN:

Với mỗi loại đầu mục khác nhau, các tri thức cần được cung cấp theo một mô hình cấu trúc thông tin nhất định. Điều này sẽ đảm bảo tính thống nhất, tính hệ thống cho nội dung thông tin giữa các mục.

- Tri thức được cung cấp trong BKTCN là những tri thức chính thống. Điều đó có nghĩa là những tri thức đó có nguồn gốc từ những tài liệu tham khảo chính thức, đã được công bố.

- Đối với những đối tượng sử dụng khác nhau, các thông tin tri thức được chọn lọc để cung cấp cần có độ nông sâu khác nhau, ngôn ngữ sử dụng ở mức độ chuyên sâu và phổ thông khác nhau.

- Đối với những đầu mục mang tính liên ngành, cần có cách xử lý phù hợp. Cùng một mục, khi xuất hiện ở các công trình khác nhau, người biên soạn phải làm nổi bật được tính đặc thù của chuyên ngành chứa đựng trong nội dung thông tin mục đó, tránh trường hợp trùng lắp thông tin tri thức hoặc đưa thông tin tri thức không phù hợp với chuyên ngành.

- Hình minh họa (kênh hình) trong BKTCN cần chính xác, mang tính khoa học, có tác dụng phục vụ cho việc phản ánh rõ thêm nội dung thông tin tri thức (kênh chữ) trong cấu trúc vi mô.

7. Kết luận

Việc xác định loại hình BKTCN đã được nhìn nhận dưới nhiều góc độ với các hệ quy chiếu khác nhau. Vấn đề xác định nội hàm khái niệm BKTCN là cơ sở để xác định bản chất của loại hình BKT này. Xác định đặc trưng BKTCN bao gồm tính chuyên biệt, tính giáo dục, tính chính xác và tính cập nhật sẽ chỉ ra những đặc tính cơ bản của nó. Việc đánh giá chức năng của BKTCN là cung cấp và chuẩn hóa tri thức chuyên ngành, đồng thời giúp lưu lại dấu ấn lịch sử của chuyên ngành khoa học, phục vụ cho đối tượng muốn tìm hiểu, khám phá một ngành khoa học nào đó cũng giúp cho các soạn giả có cơ sở trong việc thiết kế cấu trúc vĩ mô và cấu trúc vi mô của một công trình BKTCN. Việc phân loại BKTCN từ các góc độ khác nhau sẽ đem lại sự nhìn nhận, đánh giá toàn diện về các công trình BKT thuộc loại hình BKTCN. Những luận điểm khoa học này sẽ giúp cho việc nhận diện loại hình BKTCN trên nền tảng cơ sở lý luận.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Ban Biên soạn Từ điển bách khoa Quân sự, Từ điển bách khoa Quân sự Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.

[2] Đỗ Văn Hoan, Về phương pháp lập bảng mục từ Bách khoa thư Công an Nhân dân Việt Nam, Từ điển học và bách khoa thư, số 6(20), 2012.

[3] Kim Ngọc, Ngành Bách khoa thư học trên thế giới và ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 10(83), 2014.

[4] Nguyễn Kim Thản, Bách khoa thư, nguồn gốc và phân loại, Từ điển học và Bách khoa thư, số 1(1), 2009.

[5] Tạ Văn Thông, Bách khoa toàn thư trong sự phân biệt với các công trình tra cứu khác, Từ điển học và Bách khoa thư, số 3(29), 2014.

[6] Hà Học Trạc, Lịch sử - lý luận và thực tiễn biên soạn Bách khoa toàn thư, Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2004.

[7] Nguyễn Như Trang, Quy trình biên soạn bộ Từ điển văn học dành cho học sinh phổ thông, Từ điển học và Bách khoa thư, số 5, 2010.

[8] Phạm Hùng Việt (Chủ biên), Lý luận, phương pháp luận Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam - Một số vấn đề cơ bản, Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2011.

[9] Viện Chiến lược và Khoa học Công an, Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2005.

[10] Hartmann R.R.K., James Gregory, Dictionary of lexicography, Routledge. London and New York, 2002.

[11] Malmkjaer Kirsten, The Linguistics Encyclopedia, Routledge, London and New York, second edition 2002; third edition 2010.

[12] https://elementary.oslis.org.

 

NGUYỄN NHƯ TRANG - HOÀNG THỊ NHUNG