HƯỚNG TỚI BIÊN SOẠN BÁCH KHOA THƯ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM

19/11/2021

Tóm tắt: Di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc thiểu số Việt Nam vô cùng phong phú và đa dạng, chứa đựng trong nó rất nhiều nét đặc sắc, mang đậm dấu ấn dân tộc. Di sản văn hóa phi vật thể không chỉ thuộc riêng về một nền văn hóa mà nó còn góp phần gắn kết xã hội, khuyến khích ý thức về bản sắc và trách nhiệm, qua đó cá nhân cảm thấy mình là một phần của một hoặc nhiều cộng đồng khác nhau, và của toàn xã hội. Vì vậy, việc tiến hành biên soạn Bách khoa thư di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số Việt Nam sẽ giúp người đọc có cái nhìn hệ thống hơn về các di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.

Từ khóa: Văn hóa, di sản văn hóa, di sản văn hóa phi vật thể, dân tộc thiểu số.

Abstract: The intangible cultural heritage of Vietnam's ethnic minorities is extremely rich and diverse, containing in it many unique features and bold national imprints. Intangible cultural heritage does not belong exclusively to a culture, but it also contributes to social cohesion, promotes a sense of identity and responsibility, through which individuals feel part of one or more different communities, and of society as a whole. Therefore, the compilation of the Encyclopedia of Intangible Cultural Heritage of Ethnic Minorities in Vietnam will help readers have a more systematic view of the intangible cultural heritages of ethnic minorities. in Vietnam.

Keywords: Culture, cultural heritage, intangible cultural heritage, ethnic minorities.

 1. Mở đầu

Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc khác nhau, mỗi một dân tộc đều mang trong mình những nét văn hóa đặc sắc và lâu đời gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của từng dân tộc. Chính sự khác biệt về các thành phần dân tộc này đã góp phần tạo nên những nét đẹp văn hóa rất đa dạng, phong phú và đặc sắc cho nền văn hóa của nước nhà. Việt Nam có phong tục truyền thống hàng nghìn năm, nó đã trở thành luật tục, sâu đậm và gắn chặt trong tâm trí của mỗi người dân. Vì vậy, có thể nói văn hóa Việt Nam là sự thống nhất trong đa dạng. Ngoài di sản văn hóa của người Việt, các dân tộc thiểu số Việt Nam cũng góp phần rất lớn tạo nên di sản văn hóa Việt Nam đa dạng, phong phú và giàu giá trị. Bên cạnh các di sản văn hóa vật thể thì di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng chứa đựng những nét đặc sắc, mang đậm dấu ấn dân tộc. Trong đó, có những di sản đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại như: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Hát Then của người Tày, Nùng và Thái,... Trải qua thời gian, hiện nay, nhiều di sản đã và đang bị mai một, cần phải có những phương án, cách thức để bảo tồn, phát huy chúng. Cho đến nay, chưa có một cuốn sách nào mang tính chất bách khoa thư về di sản văn hóa nói chung và về di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số Việt Nam nói riêng. Vì vậy, việc tiến hành biên soạn một cuốn Bách khoa thư di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số Việt Nam không chỉ góp phần giúp người đọc có cái nhìn hệ thống về các di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, là tài liệu tham khảo hữu ích trong quá trình học tập, tra cứu và cung cấp những kiến thức sâu, rộng và toàn diện, mà còn làm rõ hơn về mặt lý luận biên soạn và biên tập bách khoa thư về các di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc thiểu số Việt Nam, bên cạnh đó, góp phần vào công tác bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số Việt Nam.

2. Khái niệm về di sản văn hóa phi vật thể

Theo “Công công ước Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể” được UNESCO thông qua ngày 17.10.2003 và Việt Nam cam kết thực hiện từ ngày 20.9.2005, di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là “các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng – cũng như các công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan – mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường, với mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người”. 

Tại Điều 4, Mục 1, Văn bản hơp nhất số 10/VBHN-VPQH, ngày 23.7.2013, “Luật Di sản văn hóa” do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành, Di sản văn hóa phi vật thể là: “sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, tập thể, và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác. Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: tiếng nói, chữ viết; ngữ văn dân gian; nghệ thuật trình diễn dân gian; tập quán xã hội và tín ngưỡng; lễ hội truyền thống; nghề thủ công truyền thống; tri thức dân gian”.

3. Cách thức biên soạn Bách khoa thư di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số Việt Nam

3.1. Xây dựng nguyên tắc và thể lệ biên soạn

- Xác định các đặc điểm chung của các mục từ trong Bách khoa thư di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số Việt Nam.

- Xác định kết cấu vi mô của các mục từ trong Bách khoa thư di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số Việt Nam.

- Xác định hình thức trình bày các mục từ trong Bách khoa thư di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số Việt Nam (thứ tự các mục từ, quy tắc trình bày các thông tin trong mục từ, quy tắc chính tả, cách viết hoa,...)

3.2. Xây dựng Bảng mục từ

Đối tượng nghiên cứu chính là di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số Việt Nam. Mỗi đơn vị tra cứu trong công trình gọi là Mục từ. Mục từ là một đơn nguyên cơ bản của việc biên soạn Bách khoa thư di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số Việt Nam. Công trình này bao gồm cả kênh hình và kênh chữ nhằm giới thiệu những tri thức cơ bản nhất, ngắn gọn nhất về một chủ đề tri thức đáp ứng yêu cầu thuận tiện cho độc giả trong việc tra cứu, tìm kiếm thông tin một cách dễ dàng và nhanh chóng.

3.2.1. Cấu trúc vĩ mô

Theo Cục Di sản văn hóa, đến nay, 395 di sản văn hóa phi vật thể đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Riêng 6 tháng đầu năm 2021, 31 di sản văn hóa phi vật thể được ghi danh vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Tính đến nay, có khoảng 172 di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc thiểu số Việt Nam đã được Unesco và Nhà nước công nhận. Trong đó, có 13 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Danh sách cụ thể các mục từ lựa chọn được sắp xếp theo lịch đại, các di sản được công nhận trong từng năm sẽ được xếp theo thứ tự ABC). Mỗi mục từ lựa chọn là một di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số Việt Nam.

- Tiêu chí lựa chọn mục từ

Di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc thiểu số Việt Nam vô cùng phong phú và đa dạng, có nhiều giá trị đối với cộng đồng các dân tộc. Tuy nhiên, trong khuôn khổ nhiệm vụ này, chúng tôi chỉ lựa chọn những di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã được Nhà nước và UNESCO công nhận từ năm 2012 (năm bắt đầu tổ chức xét duyệt và công nhận) đến nay.

- Đầu mục từ:

+ Là từ hoặc cụm từ dùng làm tiêu đề cho mục từ. Đây là chìa khóa cơ bản nhất để tìm kiếm, tra cứu thông tin. Đầu mục từ phải khái quát được hoặc đại diện cho nội dung của mục từ nhưng ngắn gọn, rõ ràng.

+ Dùng từ chuẩn xác, quen thuộc đã được sử dụng trong thực tiễn để xây dựng đầu mục từ.

+ Đầu mục từ phải đạt yêu cầu thuận tiện cho độc giả tìm kiếm, tra cứu.

3.2.2. Danh sách tên các di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số Việt Nam của Việt Nam dự kiến tiến hành biên soạn

Tập hợp bảng mục từ gồm các di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số Việt Nam. Tên các mục từ được sắp xếp theo thứ tự A, B, C. Xây dựng bảng mục từ được thực hiện qua hai bước sau:

Bước 1: Chọn mục từ dựa trên thực tế, sách báo, các quyết định của Unesco và Nhà nước công nhận các di sản đó là di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số Việt Nam, để đưa vào bảng mục từ.

Bước 2: Căn cứ vào danh sách bảng mục từ đã được chọn ở bước 1 để tiến hành biên soạn.

3.3. Tổ chức biên soạn mục từ

Sau khi lựa chọn được danh sách các mục từ về di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số Việt Nam, sẽ tiến hành biên soạn, biên tập các mục từ đã xác định dựa trên việc sưu tầm, chỉnh lý, hệ thống và biên soạn những di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số Việt Nam của Việt Nam từ năm 2012 (năm bắt đầu được công nhận) đến nay, gồm cả kênh chữ và kênh hình đã được xây dựng, cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến: nguồn gốc, nội dung, địa điểm, thời gian, khu vực, hiện trạng bảo tồn và phát huy của các di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số Việt Nam.

3.3.1. Cấu trúc vi mô

- Đầu mục từ được viết in hoa, đậm. Ngay sau đầu mục từ có thể có chú thích được để trong ngoặc đơn ( ).

- Định nghĩa mục từ.

- Nội dung mục từ bao gồm:

+ Tên di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số Việt Nam

+ Mục từ được biên soạn theo loại hình bách khoa toàn thư hiện đại, trường độ của mục từ chủ yếu là các mục từ trung bình (từ 800 - 1.200 chữ) và một số mục từ dài (1.200 - 2.500 chữ). Tuy nhiên, cũng có mục từ ngắn, mục từ trung bình và mục từ dài tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Căn cứ vào Tài liệu hướng dẫn biên soạn các chuyên ngành Bách khoa toàn thư Việt Nam do Ban Thư ký Đề án biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam biên soạn, tạm thời cấu trúc mục từ bao gồm:

- Định nghĩa di sản văn hóa đó là gì? (Năm công nhận, cấp (thế giới và quốc gia) công nhận, tiêu chí được công nhận,…).

- Di sản đó của dân tộc nào?

- Miêu tả di sản: nguồn gốc, nội dung, của dân tộc nào, diễn ra ở đâu, thuộc vùng miền nào? (có những di sản liên cả mấy huyện, mấy tỉnh như: Cồng chiêng Tây Nguyên, Chiêng Mường),…

- Tình trạng hiện nay: hiện trạng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của các di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số Việt Nam,…

- Tên người biên soạn

- Tài liệu tham khảo

3.3.2. Cấu trúc mục từ

+ Cấu trúc mục từ biên soạn sẽ dựa vào các tiêu chí nhất định được đề ra trong quá trình tổ chức biên soạn bản thảo, đảm bảo tính khoa học, chính xác.

+ Văn phong biên soạn trong sáng, dễ hiểu.

+ Chính tả, viết hoa, viết  tắt theo tài liệu hướng dẫn của Đề án biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam.

Mục từ mẫu:

KHÔNG GIAN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN, là di sản văn hóa của 17 dân tộc thiểu số thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Á (Austro-Asian) và Nam đảo (Austronesian) sống trên khu vực cao nguyên trung bộ của Việt Nam, trải rộng ở 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng.

Cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể thứ hai của Việt Nam được tôn vinh là di sản của thế giới, sau Nhã nhạc Cung đình Huế. Ngày 25.11.2005, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam đã được Unesco chính thức công nhận là kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Chủ nhân của di sản văn hóa này là các cộng đồng cư dân ở Tây Nguyên sống chủ yếu bằng nghề canh tác nông nghiệp truyền thống. Họ phát triển nhiều loại nghề thủ công, sáng tạo ra nhiều phong cách trang trí và các kiểu nhà ở truyền thống độc đáo. Tín ngưỡng chủ đạo của họ xuất phát từ tục thờ cúng tổ tiên, shaman giáo và thờ cúng vật linh. Những tín ngưỡng này gắn bó mật thiết với cuộc sống hằng ngày của cư dân và chu kỳ các mùa trong năm, hình thành nên một thế giới thần bí. Những chiếc cồng chiêng là cầu nối thông linh giữa con người, thần linh và thế giới siêu nhiên. Người dân nơi đây tin rằng, mỗi chiếc chiêng, chiếc cồng đều ẩn chứa trong nó một vị thần. "Cồng chiêng càng già thì thần linh càng mạnh và càng thiêng". Hầu như nhà nào cũng có ít nhất một bộ cồng chiêng, nó thể hiện cho sự giàu có và quyền thế, đồng thời là vật bảo vệ cho gia đình được bình an.

Cấu trúc không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được tạo ra bởi sự xuất hiện của nhạc cụ cồng chiêng, các bản nhạc diễn tấu cồng chiêng, nghệ thuật biểu diễn, nghệ nhân và công chúng, không gian diễn tấu cồng chiêng, các mối quan hệ giữa nghệ thuật diễn tấu cồng chiêng với tín ngưỡng, phong tục, nghi lễ - lễ hội,… của đồng bào các dân tộc bản địa ở Tây Nguyên. Từ xa xưa, văn hóa cồng chiêng luôn gắn bó mật thiết với đời sống cộng đồng của người Tây Nguyên như một phần không thể thiếu trong suốt vòng đời của mỗi người. Tiếng chiêng dài hơn đời người, kết nối các thế hệ lại với nhau. Hầu hết các sự kiện quan trọng của cộng đồng như: lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh, lễ cưới xin, lễ tiễn đưa người chết, lễ đâm trâu trong ngày bỏ mả, lễ cúng máng nước, mừng lúa mới, lễ đóng cửa kho, lễ mừng nhà rông mới,... đều phải có tiếng cồng chiêng. Điểm nổi bật của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là sự tồn tại và phát triển của di sản luôn gắn chặt với môi trường xã hội và môi trường sinh thái ở Tây Nguyên. Sự trao truyền văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên không thể tách rời với sinh hoạt văn hóa tộc người và môi trường tự nhiên. Không gian văn hóa cồng chiêng hiện diện từ ngôi nhà rông, nhà gươl, bếp lửa nhà dài cho đến khu mộ địa huyền bí khi làm lễ hội bỏ mả, khu bến nước, rừng đầu nguồn, trên nương rẫy sau “mùa ning nong”, “mùa ăn năm uống tháng”,... của các cộng đồng cư dân ở Tây Nguyên.

Có giả thuyết cho rằng, không gian văn hóa cồng chiêng bắt nguồn từ văn minh Đông Sơn - nền văn hóa đồng thau xuất hiện tại Đông Nam Á, có nguồn gốc từ truyền thống văn hóa và lịch sử rất lâu đời. Cồng chiêng của Việt Nam khác biệt với những khu vực khác bởi tính cộng đồng rất cao, thể hiện ở việc mỗi nhạc công đánh một chiếc. Từng thành viên trong dàn nhạc nhớ rõ từng tiết tấu của từng bài chiêng trong mỗi nghi lễ và kết hợp hài hòa với các nhạc công khác cùng chơi. Tùy theo từng nhóm dân tộc, cồng chiêng được đánh bằng dùi hoặc bằng tay; mỗi dàn cồng chiêng có khoảng từ 2 - 13 chiếc, đường kính của cồng chiêng dao động từ 25 - 120cm. Các nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng, cội nguồn của cồng chiêng là "hậu duệ" của đàn đá, người xưa đã sử dụng những loại khí cụ đá như: cồng đá, chiêng đá,... cho tới thời đại đồ đồng mới có chiêng đồng,... Thuở sơ khai, cồng chiêng được đánh lên để mừng lúa mới, xuống đồng; biểu hiện của tín ngưỡng - là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên,...

Cồng chiêng của người Tây Nguyên không tự chế tác được mà phải mua của người Kinh từ các vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Lào, Campuchia mang về  nắn chỉnh lại theo âm thanh người dùng mong muốn. Mỗi một làng bản đều có một người chuyên lên chiêng (còn gọi là người chỉnh chiêng). Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên có giá trị âm nhạc, lịch sử, văn hóa, thẩm mỹ, nghệ thuật biểu biễn, tâm linh, là chất xúc tác không thể thiếu đối với đời sống tinh thần cộng đồng các dân tộc bản địa cũng như quá trình phát triển Tây Nguyên. Âm thanh cồng chiêng thể hiện ước mơ, khát vọng, là tiếng nói cộng cảm, niềm vui, nỗi buồn, thông điệp trao gửi giữa cá nhân với cộng đồng, giữa cộng đồng với thế giới thần linh và môi trường sinh thái.

Theo quan niệm của người Tây Nguyên, đằng sau mỗi chiếc cồng, chiêng đều ẩn chứa một vị thần. Cồng chiêng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao. Cồng chiêng còn là tài sản quý giá, biểu tượng cho quyền lực và sự giàu có. Trong những ngày hội, những vòng người nhảy múa bên cạnh ngọn lửa thiêng, cùng uống rượu cần trong tiếng cồng chiêng, tạo nên một không gian lãng mạn và huyền ảo của núi rừng Tây Nguyên, sản sinh ra những trang sử thi, bài thơ ca đầy tính lãng mạn và hùng tráng, mang đậm văn hóa Tây Nguyên. Cồng chiêng Tây Nguyên rất đa dạng và phong phú. Tồn tại trên mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ hàng ngàn đời nay, nghệ thuật cồng chiêng đã phát triển đến một trình độ cao. Mỗi dân tộc đều có những bản nhạc cồng chiêng riêng để diễn tả như: Juan, Trum vang,... Người Bana có các bài chiêng: Xa Trăng, Sakapo, Atâu, Tơrơi,... Âm thanh của cồng chiêng còn là chất men lôi cuốn người dân vào những điệu múa hào hứng của cả cộng đồng trong những ngày hội của buôn làng. Đây là nét sinh hoạt văn hóa dân gian nổi bật nhất của nhiều dân tộc ở Tây Nguyên.

Âm nhạc của cồng chiêng Tây Nguyên thể hiện trình độ điêu luyện của người chơi trong việc áp dụng những kỹ năng đánh chiêng và kỹ năng chế tác. Với người Tây Nguyên, cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng là tài sản vô giá. Âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên không những là một giá trị nghệ thuật đã từ lâu được khẳng định trong đời sống xã hội mà còn là kết tinh của hồn thiêng sông núi qua bao thế hệ. Cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ có ý nghĩa về mặt vật chất cũng như những giá trị về nghệ thuật đơn thuần mà nó còn là tiếng nói của con người và thần linh. Mỗi một dàn cồng chiêng là tiếng nói tâm linh, tâm hồn của người Tây Nguyên, để diễn tả những niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ. Các tộc người ở Tây Nguyên sử dụng cồng chiêng theo cách thức riêng để chơi những bản nhạc của riêng dân tộc mình. Trải qua bao năm tháng, cồng chiêng đã trở thành nét văn hoá đặc trưng, đầy sức quyến rũ. Cồng chiêng chính là cuộc sống của người Tây Nguyên. Nghe cồng chiêng người ta có thể thấy được không gian săn bắn, không gian làm rẫy, không gian lễ hội,... của người dân Tây Nguyên.

Mỗi dân tộc, mỗi vùng miền lại có những đặc trưng riêng của cồng chiêng. Cồng chiêng có thể được dùng đơn lẻ, hoặc dùng theo dàn, theo bộ từ 2 - 12 chiếc, cũng có bộ 18 - 20 chiếc như bộ chiêng của người Giarai. Dàn cồng chiêng Tây Nguyên được tổ chức như một dàn nhạc có thể diễn tấu những bản nhạc đa âm với các hình thức hòa điệu khác nhau. Đặc biệt, trong dàn nhạc này mỗi người chỉ đánh một chiếc cồng, hoặc chiêng (cồng là loại có núm, chiêng không có núm).

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã trở thành một kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại. Cồng chiêng vốn là tài sản vô giá, được các cộng đồng dân tộc Tây Nguyên sáng tạo và không ngừng phát huy, trao truyền lại từ bao đời nay. Hiện nay, do quá trình chuyển biến về kinh tế, xã hội và tín ngưỡng đã và đang làm thay đổi mạnh mẽ cuộc sống của các cộng đồng nơi đây. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đang đứng trước nguy cơ mai một rất lớn. Việc gìn giữ và chuyển giao lại các tri thức và bí quyết về cồng chiêng cho thế hệ tương lai gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều nghệ nhân nắm giữ bí quyết qua đời, nhiều người không còn biết hết các nghi lễ truyền thống, thế hệ trẻ ít hoặc không quan tâm đến cồng chiêng. Ở nhiều nơi, cồng chiêng bị tước khỏi ý nghĩa nguyên bản và không gian văn hóa linh thiêng. Cồng chiêng trở thành những vật buôn bán trao đổi, tái chế phục vụ cho các mục đích khác. Vì vậy, việc bảo vệ không gian văn hóa cồng chiêng trong bối cảnh đương đại là nhiệm vụ nặng nề, phức tạp và cấp bách. Hiện nay, các tỉnh ở Tây Nguyên đã có nhiều chủ trương, giải pháp và tổ chức các hoạt động văn hóa nhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa cồng chiêng một cách hiệu quả. Mặc dù chịu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng và tác động của nhiều loại hình văn hóa hiện đại, nhưng văn hóa cồng chiêng ở đây vẫn được bảo tồn và hòa nhịp với cuộc sống đương đại. Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ là một món ăn tinh thần của người dân Tây Nguyên mà nó còn chứa đựng những sáng tạo mang tầm kiệt tác của nhân loại.

CUNG THỊ THU HẰNG

 

Tài liệu tham khảo:

1. Trần Khải Định, Bảo tồn phát huy giá trị không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Tư tưởng văn hóa, số 10, 2007.

2. Lê Khả Phiêu, Hoàng Minh Thảo, Hoàng Sơn, Văn Bảo, Nguyễn Hòa, Bảo vệ không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên - Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại, Nxb. Văn hóa Thông tin, 2007.

3. Phạm Quang Nghị, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên - kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, Di sản văn hóa, số 2, 2006.

4. Tô Ngọc Thanh, Kiệt tác di sản truyền miệng và phi vật thể của nhân loại: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Nxb. Thế giới, 2006.

4. Kết luận

Di sản văn hoá phi vật thể là những di sản có giá trị đặc biệt mà trong đó, con người đóng vai trò chủ chốt trong việc sáng tạo và truyền giữ, đó là những kho tàng tri thức, kỹ năng được truyền từ đời này qua đời khác, là nhân tố quan trọng để bảo tồn sự đa dạng văn hoá trong quá trình toàn cầu hoá tăng nhanh. Di sản hóa phi vật thể có thể tồn tại phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức và hành vi của các chủ thể sáng tạo văn hóa và chủ sở hữu di sản. Vì vậy, hiểu được di sản văn hoá phi vật thể của nhiều cộng đồng khác nhau sẽ giúp thúc đẩy các quá trình đối thoại giữa các nền văn hoá và qua đó có sự tôn trọng các phương cách sống khác nhau của từng dân tộc. Một di sản văn hoá phi vật thể muốn duy trì được sức sống phải có ý nghĩa với cộng đồng và liên tục được cộng đồng đó tái tạo, lưu truyền từ đời này qua đời khác thông qua việc nghiên cứu, sưu tầm, tư liệu hoá các thông tin liên quan tới di sản văn hoá phi vật thể; phổ biến kiến thức và bảo vệ di sản thông qua các kênh giáo dục,… Hiện nay, đã có một số sách về các di sản văn hóa phi vật thể nói chung, di sản văn hóa phi vật thể của các tỉnh, thành phố nói riêng, nhưng đa số mới được giới thiệu một cách đơn lẻ, chưa cung cấp tri thức một cách hệ thống và chưa mang tính bách khoa thư. Các sách đã biên soạn trước đây về đề tài này thường là sách khảo cứu, sách giới thiệu về các di sản văn hóa phi vật thể nhưng chưa có sách biên soạn theo hình thức bách khoa thư. Vì vậy, việc hướng tới biên soạn Bách khoa thư di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số Việt Nam là nhu cầu cấp thiết và quan trọng.

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Trần Văn Bình, Văn hóa các dân tộc Tây Bắc - thực trạng và những vấn đề đặt ra, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.

[2] Vũ Thị Hà, Vai trò của người cao tuổi trong việc giữ gìn và trao truyền các di sản văn hóa phi vật thể, Văn hóa nghệ thuật, số 424, 2019.

[3] Nguyễn Thị Hiền, Quản lý nhà nước và vai trò cộng đồng trong bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể, Nxb. Văn hóa dân tộc, 2017.

[4] Lã Văn Lô, Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam,Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1959.

[5] Hữu Ngọc (Chủ biên), Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 1995.

[6] Hà Văn Thắng (Chủ biên), Di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc tỉnh Lào Cai, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2019.

[7] Hà Học Trạc, Lịch sử - Lý luận và thực tiễn biên soạn Bách khoa toàn thư, Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2004.

[8] Đặng Nghiêm Vạn, Văn hóa Việt Nam đa tộc người, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007.

 

 

CUNG THỊ THU HẰNG