CHUYÊN NGÀNH NHIẾP ẢNH VỚI BÁCH KHOA THƯ NGHỆ THUẬT

19/11/2021

Tóm tắt: Là một phương tiện truyền thông đại chúng, nhiếp ảnh chuyển tải thông tin và đưa cái đẹp đến người xem thông qua tác động của ánh sáng. Sử dụng máy ảnh ghi lại hình ảnh các vật thể hoặc hiện tượng tự nhiên qua ống kính sáng tạo, nghệ sĩ nhiếp ảnh mang đến cho người xem một nội dung mới trong cách nhìn nhận hiện thực. Ngoài 4 năng lực: cảm xúc, tư duy, quan sát và tạo hình, người nghệ sĩ nhiếp ảnh còn phải có lý tưởng thẩm mỹ, tri thức về nghệ thuật tạo hình và phong cách riêng. Lịch sử nhiếp ảnh thế giới và nhiếp ảnh Việt Nam ghi nhận sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Tuy còn “non trẻ” song Nghệ thuật Nhiếp ảnh là một mảng không thể thiếu trong khối ngành Nghệ thuật khi biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam.

Từ khóa: Nghệ thuật Nhiếp ảnh, Bách khoa thư Nghệ thuật, Bách khoa toàn thư Việt Nam.

Abstract: As a mass media, the photography conveys information and brings beauty to the viewers through the impact of light.  Using a camera to capture the images of objects or natural phenomena through creative lens, the photographer gives viewers a new perspective on reality. Besides four competencies: feeling, thinking, observing and shaping, a photographer also must have aesthetic ideals, knowledge of the visual arts, and own style. The history of photography in the world and in Vietnam has recorded the advancement of science and technology. Although the Art of Photography is still “young”, it is an indispensable part of the Art sector on compiling the Encyclopedia of Vietnam.

Keywords: Art of Photography, Encyclopedia of Art, Encyclopedia of Vietnam.

 

1. Mở đầu

Bách khoa thư là loại sách công cụ giới thiệu những tri thức cơ bản của một hay nhiều ngành văn hóa, khoa học dựa trên những công trình và tư liệu đã được tổng kết, đánh giá. Nhà triết học cổ Hy Lạp Aristotle được coi là nhà bách khoa thư sớm nhất với những bài viết mang tính bách khoa như vật lý học, siêu hình học, luận lý học, chính trị học,... Ở phương Tây, bách khoa thư được hình thành và phát triển qua ba thời kỳ: cổ đại, trung đại và hiện đại. Các sách loại thư ở Trung Quốc trước kia cũng được xếp vào loại hình bách khoa thư. Ở Việt Nam, những bộ sách mang  tính bách khoa thư đầu tiên là Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn (thế kỷ XVIII) và Lịch triều hiến chương loại chí 49 tập của Phan Huy Chú (đầu thế kỷ XIX).

Ngày 28.7.2014, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 1262/QĐ - TTg Phê duyệt Đề án Biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam. Tháng 2.2015, Hội đồng Chỉ đạo biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam được thành lập. Trong quá trình xây dựng đề cương các quyển chuyên ngành, một số quyển được tách ra thành hai hợp đồng. Khối ngành Nghệ thuật do lượng tri thức nhiều lại có những đặc thù riêng nên được chia thành hai quyển. Quyển thứ nhất bao gồm Âm nhạc và Múa. Quyển thứ hai bao gồm Điện ảnh, Nhiếp ảnh và Sân khấu. Nhiếp ảnh là một phần không thể thiếu trong quyển chuyên ngành Nghệ thuật nói riêng và Bách khoa toàn thư Việt Nam nói chung.

2. Nghệ thuật Nhiếp ảnh

Là một phương tiện truyền thông đại chúng, nhiếp ảnh chuyển tải thông tin và đưa cái đẹp đến người xem thông qua tác động của ánh sáng. Sử dụng máy ảnh ghi lại hình ảnh các vật thể hoặc hiện tượng tự nhiên (nhìn thấy hoặc không nhìn thấy được) trên chất liệu bắt sáng, qua ống kính sáng tạo, nghệ sĩ nhiếp ảnh mang đến cho người xem một nội dung mới trong cách nhìn nhận hiện thực. Ngoài 4 năng lực: cảm xúc, tư duy, quan sát (nhạy cảm thị giác) và tạo hình, người nghệ sĩ nhiếp ảnh còn phải có lý tưởng thẩm mỹ đúng đắn, lòng nhân đạo cao cả, hiểu biết về kỹ thuật nhiếp ảnh, có trình độ học vấn, có tri thức về nghệ thuật tạo hình và có phong cách riêng.

Nhiếp ảnh có sự khởi đầu từ một phương pháp kỹ thuật nhằm tái tạo hình ảnh trên các chất liệu bắt sáng. Ba người có công đầu là Louis Jacques Mandé Daguerre (1787 - 1851), Nicéphore Niépce (1765 - 1883) người Pháp và William Henry Fox Talbot (1800 - 1877) người Anh. Năm 1820, Nielfs phát hiện có một loại hắc ín ở vùng Jutia (khu vực phía nam của Palestine cổ) nhạy cảm đối với ánh sáng. Kết hợp vật liệu nhạy cảm ánh sáng này với một chiếc hộp đen, Nielfs đã chế tạo thành công máy chụp ảnh. Chiếc máy chụp ảnh do ông chế tạo vào năm 1826 hiện vẫn còn lưu giữ được và một số người cho rằng Nielfs là người phát minh ra máy ảnh đầu tiên. Tuy nhiên, phương pháp chụp ảnh của Nielfs cần 8 giờ đưa ra ánh sáng mới hiện lên hình ảnh mờ.

Bức ảnh được xem như cổ nhất trên thế giới được Nicéphore Niépce chụp một bản khắc kim loại với hình vẽ một người dắt ngựa vào năm 1825. Một năm sau đó, Nicéphore Niépce chụp thành công bức ảnh cố định (permanent photograph) đầu tiên với tiêu đề La cour du domaine du Gras. Daguerre đã ghi lại hình ảnh trên một miếng gỗ phẳng có thoa chất i-ốt bạc và đưa ra ánh sáng từ 15 đến 20 phút để hoàn thành. Trong khoảng hai năm sau khi Daguerre công bố phương pháp chụp ảnh của mình thì một số người khác đã đề xuất ý kiến thêm vào chất i-ốt bạc một lượng brôm bạc. Việc thay đổi này đã giúp cho tác dụng cảm quang được nhanh hơn.

Năm 1835, Wiliam Henry Fox Talbot đã có được bức ảnh đầu tiên. Do Talbot theo đuổi một số công trình nghiên cứu cùng lúc với nhiếp ảnh nên không thể nhanh chóng tiến hành việc thực nghiệm đến nơi đến chốn. Ít lâu sau khi Daguerre công bố phát minh, năm 1839, Talbot công bố phương pháp chụp ảnh đã cải tiến của mình. Phương pháp chụp của ông giống như phương pháp chụp ảnh hiện nay và dùng âm bản để chụp ảnh. Sau phát minh ra kỹ thuật nhiếp ảnh của Daguerre và Talbot, kỹ thuật nhiếp ảnh đã có những bước cải tiến lớn như việc xử lý âm bản theo dạng ướt, xử lý âm bản theo dạng khô và tiến tới có những cuốn phim. Kỹ thuật quay phim trong điện ảnh cũng là bước phát triển quan trọng của kỹ thuật chụp ảnh và được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực giống như chụp ảnh. Sự cống hiến của Daguerre được đánh giá cao bởi thiết kế của ông xét về mặt kỹ thuật hoàn toàn mang tính ứng dụng và nhanh chóng được sử dụng rộng rãi, thúc đẩy sự phát triển của ngành nhiếp ảnh.

Sang thế kỷ XIX, nhiếp ảnh dần được các chuyên gia coi là một phương tiện thẩm mỹ. Các trào lưu nhiếp ảnh bắt đầu xuất hiện, thời kỳ đầu là Nhiếp ảnh Như họa (Pictorialism Photography), Nhiếp ảnh Trừu tượng (Abstract Photography) và Nhiếp ảnh Thẳng thắn (Straight Photography). Năm 1975, Steven Sasson, một kỹ sư điện người Mỹ đã chế tạo ra máy ảnh kỹ thuật số. Chiếc máy đầu tiên nặng hơn 3,5kg và ghi lại hình ảnh đen trắng trên băng cassette, hình ảnh lưu trong những chiếc máy ảnh bằng thẻ nhớ nhỏ gọn và tiện lợi. Bốn mươi năm sau đó, máy ảnh kỹ thuật số phát triển mạnh mẽ, cạnh tranh với máy ảnh chụp phim truyền thống và chiếm lĩnh gần như hoàn toàn thị trường phim ảnh. Năm 2014, Sony và các công ty khác cho ra đời máy ảnh kết hợp quay phim với độ phân giải siêu nét 4k, cho phép chụp lại rõ và chi tiết. Để có được một tấm ảnh hoàn chỉnh, thiết bị của nhiếp ảnh bao gồm máy chụp ảnh và máy tráng phim, in phóng ảnh. Với công nghệ nhiếp ảnh kỹ thuật số, thiết bị nhiếp ảnh sẽ được số hóa. Đây là bước tiến nhảy vọt của nhiếp ảnh nhờ đạt được hiệu quả cao mà quá trình thực hiện lại đơn giản hóa. Cuộc cách mạng kỹ thuật số đã thực sự nhảy vọt và giúp Nghệ thuật Nhiếp ảnh không ngừng phát triển.

Nhiếp ảnh du nhập vào Việt Nam sau 30 năm ra đời bằng sự xuất hiện của hiệu ảnh Cảm Hiếu Đường ngày 25.2.1869 tại phố Thanh Hà, Hà Nội. Người khởi xướng là cụ Đặng Huy Trứ, một vị quan triều Nguyễn và là một nhà canh tân. Những năm sau đó, nhiều hiệu ảnh xuất hiện như cửa hiệu của Trương Văn  Sáu ở bến Thương Bạc, Huế năm 1878; Du Chương, Đông Chương, Mỹ Chương năm 1890; Hương Ký, Khánh Ký năm 1905 ở Hà Nội. Thế kỷ XX, lực lượng nhiếp ảnh ở Việt Nam dần phát triển. Những năm cuối thế kỷ XX, nhiếp ảnh thực sự gắn bó với đời sống đất nước, với lịch sử dân tộc. Từ đó đến nay, nhiếp ảnh Việt Nam từng bước trưởng thành cùng nhiếp ảnh thế giới và đã có được những thành tựu đáng khích lệ. Công cuộc đổi mới đất nước tạo đà cho nhiếp ảnh phát triển và hội nhập, tham dự triển lãm quốc tế và có nhiều tác phẩm đoạt giải cao.

 Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam thành lập ngày 8.12.1965, tên giao dịch tiếng Anh là Vietnam Association of Photographic Artists, viết tắt: VAPA. Hội là thành viên của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam và Liên đoàn Nghệ thuật Nhiếp ảnh Quốc tế. Trước đây, Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam đã có các mối quan hệ với các nước trên thế giới và tổ chức được nhiều cuộc triển lãm ảnh tập thể, cá nhân tại Pháp, Đức, Mỹ, Thái Lan, Nhật Bản, Argentina, Algeria,... Các nhà nhiếp ảnh quốc tế cũng có quan hệ trao đổi triển lãm với Việt Nam. Ảnh của các nhà nhiếp ảnh Mỹ, Anh, Áo, Italia và các quốc gia khác được trưng bày tại Việt Nam. Tháng 10.1998, bộ môn Nhiếp ảnh Nghệ thuật được mở tại Trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh Hà Nội, ban đầu đào tạo hệ cao đẳng sau lên đại học. Tạp chí Nhiếp ảnh, cơ quan chính thức của Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam ra số đầu tiên ngày 30.11.1978, từ phát hành hai tháng một số đã ra hàng tháng từ năm 1998, ngày càng được cải tiến về nội dung và hình thức. Đội ngũ những người hoạt động nhiếp ảnh nghệ thuật phát triển cùng với chất lượng sáng tác được chú trọng. Nhiều tác phẩm nghiên cứu, sách ảnh được xuất bản.

Lịch sử nhiếp ảnh thế giới và nhiếp ảnh Việt Nam ghi nhận sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Tuy còn “non trẻ” song Nhiếp ảnh là một mảng không thể thiếu trong khối ngành nghệ thuật khi biên soạn Bách khoa toàn thư Việt Nam. Cũng như với chuyên ngành khác, tri thức về nhiếp ảnh trong quyển chuyên ngành Nghệ thuật có những nét đặc thù riêng trong xây dựng đề cương cũng như tiến hành biên soạn và biên tập.

3. Chuyên ngành Nhiếp ảnh trong khối Văn hóa Nghệ thuật Bách khoa toàn thư Việt Nam

Bách khoa thư Sân khấu, Điện ảnh, Nhiếp ảnh thuộc khối ngành Nghệ thuật trong hệ thống cấu trúc của công trình Bách khoa toàn thư Việt Nam, bao gồm tri thức nghệ thuật Việt Nam và thế giới ba chuyên ngành: Nghệ thuật Sân khấu, Nghệ thuật Điện ảnh và Nghệ thuật Nhiếp ảnh.

Như đã tìm hiểu, là một loại hình nghệ thuật, nhiếp ảnh có lịch sử ra đời gắn liền với đời sống, do con người sáng tạo và quay trở lại phục vụ con người. Trong quá trình tồn tại và phát triển, sự xuất hiện các trào lưu, khuynh hướng, kỹ thuật, máy móc, trang thiết bị cũng như tổ chức, sự kiện, giải thưởng,... là những nội dung mà Bách khoa thư Nghệ thuật cần có. Vì vậy, cũng giống như các chuyên ngành khác, Nghệ thuật Nhiếp ảnh cần xác định các kiểu loại mục từ và cấu trúc nội dung để biên soạn đầy đủ, thống nhất. Có thể theo khung cấu trúc chung của Đề án, nhóm lại theo 5 chủ đề: Khái niệm, thuật ngữ; Nhân danh; Tác phẩm; Trường phái, khuynh hướng sân khấu, điện ảnh, nhiếp ảnh; Các tổ chức, sự kiện sân khấu, điện ảnh, nhiếp ảnh lớn trên thế giới. Trong mỗi chủ đề lại có sự phân chia để cân nhắc lựa chọn mục từ. Với Nghệ thuật Nhiếp ảnh, do đặc trưng riêng nên cần bổ sung chủ đề Máy móc, thiết bị chụp ảnh thay cho chủ đề Địa danh. Có thể xây dựng cấu trúc cho chuyên ngành Nhiếp ảnh trong Bách khoa thư Nghệ thuật như sau:

+ Chủ đề Khái niệm, thuật ngữ

- Tên khái niệm, thuật ngữ (tiếng Latinh, tiếng nước ngoài nếu có)

- Định nghĩa khái niệm, thuật ngữ

- Xuất xứ, nguồn gốc, lịch sử hình thành

- Nội dung cơ bản

- Xu thế phát triển, ứng dụng, tiếp nhận, ảnh hưởng

- Tên người biên soạn

- Tài liệu tham khảo

+ Chủ đề Lịch sử

- Tên mục từ

- Vị trí

- Xuất xứ, nguồn gốc

- Quan hệ với các lĩnh vực khác

- Nội dung

- Ý nghĩa, tác dụng, ảnh hưởng

- Tên người biên soạn

- Tài liệu tham khảo

+ Chủ đề Nhóm phái, trào lưu, khuynh hướng

- Tên mục từ (tiếng nước ngoài, nếu có)

- Tên gọi khác (nếu có)

- Định nghĩa và khái niệm cơ bản

- Nguồn gốc, lịch sử hình thành, diễn biến hoạt động (quan hệ với các trường phái, khuynh hướng, trào lưu khác,…)

- Người sáng lập, nhân vật đại diện, các thành viên chủ chốt, cộng tác viên (nếu có)

- Cơ quan ngôn luận (nếu có)

- Các công trình, tác phẩm chính

- Tuyên ngôn, chủ trương, quan điểm, tư tưởng lý luận chủ yếu

- Đóng góp, vị trí, vai trò và ảnh hưởng

- Các vấn đề còn đang tranh luận (nếu có)

- Tên người biên soạn

- Tài liệu tham khảo

+ Chủ đề Máy móc, thiết bị chụp ảnh

- Tên máy móc, thiết bị

- Tên người phát minh

- Thời gian, quá trình xuất hiện

- Cấu tạo

- Cách sử dụng và bảo quản

- Giá trị sử dụng và ảnh hưởng

- Người biên soạn

- Tài liệu tham khảo

+ Chủ đề Nhân danh

- Tên nhân danh

- Năm sinh, năm mất, quốc tịch, quê quán, dân tộc, tôn giáo (nếu có)

- Tên khác

- Quá trình học tập, hoạt động, sáng tác

- Các cống hiến chính, tác phẩm chính

- Phong cách, sở trường

- Ảnh hưởng

- Giải thưởng, danh hiệu

- Tên người biên soạn

- Tài liệu tham khảo

+ Chủ đề Tổ chức, sự kiện

- Tên mục từ

- Tên khác, tên viết tắt

- Định nghĩa: tổ chức/sự kiện gì; tính chất, đặc điểm

- Trụ sở, thời gian thành lập/Địa điểm thời gian tổ chức

- Người sáng lập/Đơn vị tổ chức

- Tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ; phạm vi hoạt động, tuyên ngôn

- Cơ quan ngôn luận, ấn phẩm chính (nếu có)/Người lãnh đạo và người tham gia chính

- Quá trình phát triển và các hoạt động chủ yếu; quan hệ với các tổ chức, đoàn thể khác/Bối cảnh lịch sử và quá trình diễn biến của sự kiện.

- Đóng góp, vị trí, vai trò và ảnh hưởng/Mối quan hệ với các sự kiện khác

- Thành tích, giải thưởng/Kết quả, tác dụng và ý nghĩa

- Tên người biên soạn

- Tài liệu tham khảo

+ Chủ đề Tác phẩm

- Tên mục từ

- Tên gọi khác của tác phẩm (nếu có)

- Tác giả

- Thể loại

- Thời gian, địa điểm, quá trình sáng tác và công bố, xuất bản

- Nội dung cơ bản và phong cách sáng tác

- Giá trị và ảnh hưởng

- Giải thưởng (nếu có)

- Tên người biên soạn

- Tài liệu tham khảo

Các loại mục từ được phân loại theo chức năng (mục từ chuyển chú, mục từ giải thích, mục từ chỉ dẫn khoa học, mục từ tổng hợp) hoặc theo nội dung (mục từ nhân danh và nhân vật, mục từ tên gọi tổ chức, cơ quan, mục từ thuật ngữ chuyên ngành, mục từ khái niệm). Sau khi xác định các nội dung thông tin cần đưa trong mỗi kiểu loại mục từ cần thống nhất cách sắp xếp thông tin để đảm bảo mỗi loại mục từ có được kết cấu chặt chẽ dựa theo những tiêu chí được quy định cụ thể cả kênh chữ và kênh hình.

Trên cơ sở nguyên tắc, thể lệ biên soạn Đề án ban hành, các nội dung Nhiếp ảnh của quyển Nghệ thuật sau khi được hoàn thành, sẽ được biên tập kỹ thuật và đọc duyệt. Xét về trường độ, mục từ Nhiếp ảnh cũng sẽ bao gồm 4 loại: mục từ ngắn, mục từ trung bình, mục từ dài và rất dài. Các mục từ về khái niệm cơ bản của nhiếp ảnh thường sẽ ngắn. Mục từ trung bình thường có nội dung hẹp thuộc loại mục từ về thuật ngữ, tổ chức, nhân danh. Các mục từ dài là mục từ về lịch sử hình thành và phát triển Nghệ thuật Nhiếp ảnh. Mục từ rất dài giới thiệu chủ đề rộng, có phân tầng bậc một cách hệ thống, hoàn chỉnh và có thư mục kèm theo.

4. Kết luận

Văn hóa Nghệ thuật không chỉ bao gồm toàn bộ các giá trị nghệ thuật ở tất cả các loại hình, loại thể mà là tổ hợp những thành tố có mối liên hệ hữu cơ quy định lẫn nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất. Cơ chế hoạt động của Văn hóa Nghệ thuật nói chung và Nhiếp ảnh nói riêng bao gồm quá trình sáng tạo, quá trình bảo quản và phân phối, quá trình phổ biến và tiêu thụ các giá trị nghệ thuật, cùng những cơ quan, tổ chức, thiết chế bảo đảm quá trình vận hành ấy. Những phát minh, sáng chế kết hợp cùng cơ chế hoạt động tạo nên lịch sử phát triển của Nghệ thuật Nhiếp ảnh. Thời gian trên 180 năm đối với thế giới và trên 150 năm đối với Việt Nam cũng như những năm tiếp theo tạo đà phát triển cho công nghiệp nhiếp ảnh và là nguồn tri thức phong phú để tiến hành biên soạn Bách khoa thư Nghệ thuật trong Bách khoa toàn thư Việt Nam.

Sau xây dựng đề cương, biên soạn và biên tập là phần quan trọng trong nội dung của quyển chuyên ngành Nghệ thuật, đòi hỏi mỗi loại hình nghệ thuật được đề cập phải có sự phân tích kỹ lưỡng, sắp xếp thứ tự các mục từ, chủ đề, tránh trùng lặp cùng nội dung, cùng lĩnh vực có liên quan. Điều này là hết sức bình thường và các nhà biên soạn từ các chuyên ngành khác nhau sẽ có cách nhìn nhận khác nhau. Cũng có nhiều khái niệm - thuật ngữ khi được nêu ra các chuyên gia trong cùng một chuyên ngành lại không có sự đồng tình, đặc biệt với nghệ thuật, chuyên ngành ghi dấu ấn cá nhân của người sáng tạo nghệ thuật. Chính vì vậy, khi biên soạn, biên tập nhất thiết phải chú ý đảm bảo tính khách quan trên cơ sở có được Quy tắc và thể lệ đặc thù cho việc biên soạn, biên tập chuyên ngành Nhiếp ảnh.

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo Biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam, Từ điển bách khoa Việt Nam, Tập 3, Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2003.

[2] Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam, Lịch sử Nhiếp ảnh Việt Nam (sơ thảo), Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1983.

[3] Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo Lý luận, phê bình Nhiếp ảnh lần thứ nhất, Hà Nội, 2006.

[4] Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Nhiếp ảnh phê bình và tiểu luận, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 2018.

[5] Trần Đức Tài, Thế giới nhiếp ảnh kỹ thuật số, Nxb. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2001.

[6] Trần Mạnh Thường, Lịch sử Nhiếp ảnh thế giới, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1999.

NGUYỄN THỊ THANH HẢO