NGHIÊN CỨU NGÔN NGỮ GIỚI: MỘT SỐ KHUYNH HƯỚNG

19/11/2021

Tóm tắt: Lịch sử phát triển ngôn ngữ nói chung, sự hình thành và phát triển ngôn ngữ giới nói riêng gắn liền với sự vận động và phát triển của xã hội. Mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn các quan điểm và các xu hướng nghiên cứu đều bị ảnh hưởng không nhỏ bởi hệ tư tưởng của xã hội. Bài viết tổng quan các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ, từ đó đưa ra một số khuynh hướng nghiên cứu. Những phân tích và kết quả của bài viết một mặt khái quát nên bức tranh nghiên cứu ngôn ngữ giới, mặt khác là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các công trình nghiên cứu trong tương lai về ngôn ngữ giới.

Từ khóa: Ngôn ngữ, giới, ngôn ngữ học xã hội, giới tính, đặc điểm ngôn ngữ giới.

Abstract:  The development history of linguistics in general, the foundation and development of the gendered language in particular attach to the movement and development of the society. In each period and stage, the scientific findings or views, even trends have been under significant influence of social ideologies. In the literature review on systematic studies about language and gender, generalized features and research trends are presented in order to reveal the basic picture of the field worldwide as well as provide fundamental references to further research.

Keywords: Linguistics, gender, sociolinguistics, sex, features of gendered language.

 

1. Đặt vấn đề

Nghiên cứu về ngôn ngữ giới là một mảng rất thú vị trong ngôn ngữ học xã hội. Phát triển mạnh vào những năm 60 của thế kỷ XX, chuyên ngành ngôn ngữ học xã hội đã xuất hiện nhiều bài viết có nội dung liên quan đến ngôn ngữ giới, chẳng hạn như: các hình thức thể hiện ngôn ngữ của nam và nữ trong xã hội; biểu hiện của sự kỳ thị giới tính trong ngôn ngữ; cải cách ngôn ngữ giới trong phong trào nữ quyền,… [17]. Hầu hết các nghiên cứu này đều được thực hiện song song với quá trình phát triển các phong trào giải phóng phụ nữ, phong trào phân biệt giới giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1970. Các kết quả nghiên cứu giúp chỉ ra những khác biệt khoa học về đặc điểm ngôn ngữ của nam và nữ, từ đó có thể rút ngắn hoặc xóa bỏ những định kiến về giới trong xã hội, hiểu rõ hơn về giới, ngôn ngữ giới, về nhân loại và về xã hội loài người ở từng giai đoạn lịch sử; cũng như tác động của nó góp phần thay đổi nhận thức của con người về giới. Các chuyên gia nghiên cứu về ngôn ngữ và giới nổi tiếng như Lakoff, Coats, Deborah Tannen,… đều có nhiều công trình tiếp cận ngôn ngữ giới từ nhiều góc độ khoa học với nhiều đối tượng nghiên cứu khác nhau như: ngôn ngữ giới ở các độ tuổi, các ngành nghề và các hình thức thể hiện ngôn ngữ như dạng nói, viết; đã chứng minh và chỉ rõ sự khác biệt trong ngôn ngữ giới và những nhân tố tác động tới những đặc điểm khác biệt đó. Các công trình của họ đã đóng góp phần làm rõ bức tranh ngôn ngữ xã hội trong mối liên hệ với giới như West và Zimmerman (1983) [31], Fishman (1983) [8], Coats (1986) [4], Graddol và Swann (1989) [11].

Vấn đề bài viết đặt ra là trong quá trình hình thành và phát triển nghiên cứu về ngôn ngữ giới, những quan niệm và xu hướng nghiên cứu đã được tiếp cận và thay đổi như thế nào qua các thời kỳ? Do đó, để phác họa bức tranh về tình hình nghiên cứu ngôn ngữ giới, bài viết áp dụng phương pháp mô tả định tính qua việc thu thập, phân tích ngữ liệu thứ cấp và tiếp cận theo cách xâu chuỗi, phân loại các mảng vấn đề tạo nên hệ thống đặc điểm ngôn ngữ giới trong từng hướng nghiên cứu theo trình tự thời gian.

2. Mối quan hệ giữa giới và giới tính trong nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội

Nhiều nhà khoa học cho rằng giới tính (sex) được xác định dựa trên đặc điểm sinh học, con người từ khi sinh ra đã có giới tính nam hay nữ. Chính giới tính này ảnh hưởng đến cuộc sống của con người và cách con người ứng xử với nhau.

Khái niệm giới (gender) có phần phức tạp hơn khái niệm giới tính (sex) vì nó liên quan đến hệ thống các hành vi mang tính văn hóa và xã hội. Giới có liên hệ chặt chẽ với những vấn đề xã hội tạo nên trên cơ sở giới tính, và ngôn ngữ cũng đóng vai trò chính trong việc thiết lập và duy trì những vấn đề đó. Mặc dù một số ngôn ngữ (tiếng Pháp, tiếng Ý) sử dụng “giới” là một trong những phương thức biểu thị ngữ pháp, nhưng trong khoa học xã hội thuật ngữ “giới” được sử dụng mang tính xã hội mà ở đó nam, nữ là tập hợp các hành vi được gắn với giới tính và điều chỉnh cho phù hợp với giới tính tương ứng. Vì vậy, các cá thể sinh ra là nam hay nữ đều được mong đợi mang các hành vi nam tính hay nữ tính. Các hành vi này được gia đình, trường học, môi trường xung quanh hay rộng hơn là môi trường văn hóa, xã hội xung quanh cá thể đó chấp nhận [17].

Theo Graddol và Swann (1989), những trải nghiệm khác nhau trong cuộc sống của nam và nữ không chỉ đơn giản là giải thích sự khác biệt qua đặc điểm sinh lý của hai giới tính [11]. Trong lịch sử nghiên cứu về giới, nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng hành vi hay đặc điểm giới thay đổi theo từng tình huống, trong từng cộng đồng với mục đích và mối quan tâm khác nhau, với những đối tượng tham gia vào quá trình giao tiếp khác nhau (Talbot, 1998) [30].

Trong ngôn ngữ học xã hội, khái niệm giới tính và giới ra đời và phát triển cùng với sự hình thành các xu hướng nghiên cứu giới và ngôn ngữ giới. Từ trước phong trào giải phóng nữ quyền, các nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ nam hay nữ đều dựa trên khái niệm giới tính, sự khác biệt đều mang tính sinh học. Tuy nhiên, sau khi cuộc cách mạng nữ quyền diễn ra, các nhà ngôn ngữ học đại diện cho nữ đã phản đối quan điểm giới tính mà thay vào đó đấu tranh cho luận điểm giới. Họ cho rằng những khác biệt ngôn ngữ giới đại diện cho vai trò giới mang tính xã hội (Cameron, 1997) [2].

Phân định giữa giới tính và giới chính là bước quan trọng trong quá trình nghiên cứu xã hội học nói chung và ngôn ngữ học xã hội nói riêng.

3. Một số khuynh hướng nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ giới trên thế giới

Tổng quan kết quả nghiên cứu trong hơn 50 năm qua của các nhà khoa học, có thể thấy các nghiên cứu về giới được tiếp cận theo nhiều chiều với những phương pháp nghiên cứu khác nhau. Dù nghiên cứu theo hướng tiếp cận nào thì các nghiên cứu cũng đều liên quan đến nhau và có mức độ giao thoa nhất định.

Xét theo trình tự thời gian và xét trên quan niệm về giới và giới tính, các nhà ngôn ngữ học xã hội lần lượt chỉ ra những điểm khác biệt về ngôn ngữ giới. Các quan điểm và các đặc điểm ngôn ngữ giới đã được khái quát và hệ thống theo bốn hướng tiếp cận nghiên cứu chính, bao gồm: 1- Hướng tiếp cận yếu thế (Deficit Approach) - ngôn ngữ của nữ giới bị coi là ngôn ngữ yếu thế, ngôn ngữ không chuẩn khi so sánh với ngôn ngữ của nam giới; 2- Hướng tiếp cận ưu thế (Dominance Approach) - ngôn ngữ của nam có quyền lực hơn so với ngôn ngữ của nữ giới; 3- Hướng tiếp cận khác biệt (Difference Approach) - sự khác biệt trong hình thái/ mô hình xã hội của nam và nữ; và 4- Hướng tiếp cận kiến tạo xã hội (Social Constructionism). 

3.1. Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ giới theo hướng yếu thế

Thời kỳ đầu, nhiều công trình trong lĩnh vực này nghiên cứu từ cách tiếp cận yếu thế (Deficit Approach) và ưu thế (Dominance Approach) như Jespenser, Lakoff, Coats, Zimmerman và West, Fishman, Graddol và Swann,… Tiếp cận yếu thế (Deficit Approach) được coi là hướng tiếp cận sơ khai trong quá trình nghiên cứu về ngôn ngữ giới. Những người nghiên cứu theo hướng này đã kiểm chứng và đánh giá ngôn ngữ của giới nào được cho là chuẩn và ngôn ngữ của nhóm nào được cho là không chuẩn. Theo đó, họ cho rằng ngôn ngữ của nam là ngôn ngữ chuẩn, trong khi ngôn ngữ của phụ nữ và trẻ em, ngôn ngữ của người ngước ngoài là ngôn ngữ chưa hoàn chỉnh, ngôn ngữ yếu thế, ngôn ngữ bị thiếu hụt. Điển hình là nghiên cứu của Jespenser (1922), ông cho rằng ngôn ngữ của nam giới phong phú, đầy sức sống, họ sử dụng nhiều câu phức, và cấu trúc câu phong phú. Tuy nhiên, nghiên cứu của ông mới chỉ tập trung nghiên cứu ngôn ngữ của nam, kết quả nghiên cứu còn mang tính chất cảm tính, bị ảnh hưởng từ bản thân người thực hiện nghiên cứu là nam [17]. Ngược lại với những kết quả nghiên cứu của Jespenser (1922), Lakoff nhà nghiên cứu có tầm ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực này, cho tới nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ của nữ giới nhằm chỉ ra vai trò của giới nữ trong xã hội. Với những ngữ liệu cụ thể, bà đã chỉ ra sự bất bình đẳng giới thông qua những biểu hiện ngôn ngữ của nữ giới trong giao tiếp. Đánh dấu thành tựu nghiên cứu của Lakoff là cuốn sách Language and woman’s place (Ngôn ngữ và vị trí của phụ nữ) xuất bản năm 1975 [18]. Tác phẩm này trình bày nghiên cứu phát ngôn của phụ nữ da trắng thuộc tầng lớp trung lưu Mỹ và khái quát kết quả nghiên cứu của nhóm này thành đặc điểm ngôn ngữ của giới nữ. Cụ thể các đặc điểm đó như sau:

• Tỏ ra chăm chú, lắng nghe và tham gia vào hội thoại bằng việc hoặc sử dụng cách đáp lời như: gật đầu, nói “yeah, mm hmm”;

• Sử dụng rào đón qua các cụm từ như “sort of, kind of, it seems like”; (loại, kiểu, có vẻ như…);

• Sử dụng các dạng thức (siêu) lịch sự: “Would you mind…, I’d appricate if it…, …if you don’t mind” (Bạn có phiền không….., Tôi rất lấy làm biết ơn/đánh giá cao nếu…..);

• Sử dụng câu hỏi láy đuôi: “You’re going to dinner, aren’t you?” (Chuẩn bị ăn tối nhé?);

• Sử dụng các tính từ mô tả như “lovely, adorable, nice,…” (tuyệt, đáng yêu,…);

• Sử dụng ngữ pháp và cách phát âm siêu chuẩn;

• Sử dụng cách trích dẫn trực tiếp như “She said, you can’t go” (Cô ấy nói rằng….);

• Sử dụng từ vựng đặc biệt: chủ yếu các từ chỉ vật như màu sắc (maive, fuchsia);

• Sử dụng ngữ điệu câu hỏi (lên giọng) trong câu kể nhằm thể hiện sự không chắc chắn;

• Nói ít hơn nam ở nơi công cộng;

• Xin lỗi nhiều hơn nam và thường đưa ra suy nghĩ “I am sorry, but I think that…” (Tôi rất xin lỗi, nhưng tôi nghĩ rằng…);

• Sử dụng nhiều cấu trúc tình thái, động từ khuyết thiếu như can, would, should (có thể, sẽ, nên….);

• Tránh sử dụng từ thô tục hoặc lời nguyền rủa;

• Thường có lối đề nghị/yêu cầu gián tiếp, ví dụ: “My isn’t it cold in here?” (My, ở đây lạnh phải không?);

• Sử dụng nhiều từ nhấn mạnh mức độ, như “so, very,…” (rất, cực kỳ…);

• Thiếu tính hài hước, không giỏi kể chuyện cười và không dễ hiểu các câu truyện cười;

• Ngắt lời ít hơn nam giới.

(Lakoff, 1975) [18]

Thành công của Lakoff (1975) là đã chỉ ra một loạt đặc điểm ngôn ngữ cơ bản của giới nữ để các nghiên cứu sau có thể kế thừa, kiểm chứng. Đồng thời bà đã chứng minh hai vấn đề cơ bản nữ giới phải đối mặt thời kỳ đó, đó là (1) khi nữ sử dụng những từ ngữ yếu thế, có nghĩa là họ bị từ chối quyền của bản thân; (2) khi nữ khước từ, không sử dụng những đặc điểm ngôn ngữ áp đặt cho nữ thì họ sẽ bị chỉ trích vì đã không tuân theo những đặc điểm chung của nữ giới, của quy ước xã hội. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu này vẫn vấp phải những phản đối nhất định do nghiên cứu chưa đủ cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu,… và đặc biệt bà không thể sử dụng đặc điểm ngôn ngữ của một nhóm đối tượng cụ thể để khái quát cho toàn bộ, không thể đồng nhất đặc điểm ngôn ngữ giới nữ da trắng trung lưu người Mỹ với toàn bộ giới nữ trên thế giới [17].

3.2. Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ giới theo hướng ưu thế

Khắc phục những hạn chế trong nghiên cứu của Lakoff (1975), các nhà ngôn ngữ học xã hội giai đoạn 1970 - 1980 đã kế thừa, phát triển, và củng cố quan điểm nghiên cứu theo hướng tiếp cận yếu thế (Deficit Approach). Họ khẳng định rằng những yếu thế trong ngôn ngữ của nữ hay trong vai trò của nữ chính là do yếu tố quyền lực. Nhóm các học giả như West và Zimmerman (1983), Fishman (1983), Coats (1986), Graddol và Swann (1989) đã thực hiện nghiên cứu thông qua các hoạt động giao tiếp hàng ngày giữa nam và nữ, đa phần là theo hướng phân tích hội thoại, phong cách lời nói (ngắt lời, chêm xen, nói to - nhỏ - nhanh - chậm, đặt câu hỏi…),… Có thể kể ra một số ví dụ sau:

- Nam thể hiện quyền lực hơn, mạnh mẽ hơn nữ trong giao tiếp qua giọng nói to, ngắt lời nhiều hơn nữ trong khi nữ nói chậm, hỏi ít hơn nam (Coats, 1986 [4]; Graddol và Swann, 1989 [11]);

- Phong cách nói của nam có tính cạnh tranh, thách thức trong khi nữ có xu hướng cộng tác, hòa đồng và sẵn sàng trợ giúp (Zimmerman và West, 1983) [32];

- Nữ thường nói những điều “dở hơi” - vô nghĩa để duy trì cuộc hội thoại với nam (Fishman, 1983) [8].

Những nghiên cứu theo quan điểm này đều nhấn mạnh vấn đề bất bình đẳng giới qua ngôn ngữ và khẳng định không phải nữ không có năng lực sử dụng ngôn ngữ hay do nữ yếu đuối mà do nam cho rằng mình được nắm quyền trong giao tiếp.

3.3. Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ giới theo hướng tiếp cận khác biệt

Vào những năm 1990, sau khi cuộc cách mạng nữ quyền thành công, phụ nữ được giải phóng và có phần được bình đẳng hơn, các nhà khoa học bắt đầu đặt câu hỏi về sự khác biệt giới nói chung và sự khác biệt giới trong ngôn ngữ nói riêng. Liệu khi yếu tố quyền lực, hay quan niệm áp đặt lên giới đã giảm thiểu thì có còn tồn tại sự khác biệt không? Và sự khác biệt đó có nguồn gốc/lý do từ đâu? Các nhà nghiên cứu tiêu biểu gồm Deborah Tannen, Deborah Cameron, Maltz và Borker, Janet Holmes đã đưa ra luận điểm và câu hỏi trên, mở ra một quan điểm nghiên cứu mới theo hướng tiếp cận khác biệt (Difference Approach). Cũng dựa trên quan điểm khác biệt giới tính (Sex Differences), nhưng nhóm này đặt giả thuyết về sự khác biệt chính là yếu tố văn hóa của mỗi giới. Nghĩa là khi nghiên cứu, các nhà nghiên cứu theo trường phài này đã tách yếu tố quyền lực ra khỏi giới, coi hai giới bình đẳng với nhau. Theo đó, ngữ liệu được khảo sát là các đặc điểm ngôn ngữ như cách phát âm, dùng từ, cấu trúc câu, lời đáp, chêm xen, ngắt lời,... của nam và nữ, sau đó tìm ra dạng ngôn ngữ nào được sử dụng nhiều hơn để xác định phong cách giao tiếp ưa thích của mỗi giới. Rất nhiều công trình của Deborah Tannen (1990, 1995, 1997 [27], [28], [29]) chứng minh rằng nghiên cứu về ngôn ngữ của nam và nữ giới chính là nghiên cứu phong cách lời nói, phong cách giao tiếp, và yếu tố lịch sự của mỗi giới. Khẳng định mỗi giới đều có đặc trưng ngôn ngữ riêng vì bà cho rằng khi còn nhỏ, trẻ em đã thể hiện phong cách giới khi tham gia vào các “tiểu văn hóa” riêng của cùng nhóm giới.

Qua tổng quan các nghiên cứu theo cách tiếp cận khác biệt (Difference Approach), đặc điểm phong cách lời nói của nam và nữ được tổng hợp theo 6 điểm khác nhau như sau:

• Nam sử dụng ngôn ngữ như công cụ khẳng định quyền lực trong giao tiếp, trong khi nữ sử dụng ngôn ngữ để hỗ trợ, khẳng định quan điểm (Tannen, 1990, 1995, 1997; Maltz và Boker, 1982) [23];

• Nam tìm sự độc lập, không cần hỗ trợ trong giao tiếp, trong khi nữ dè dặt, tìm kiếm sự hỗ trợ, tránh đối đầu, luôn làm nhẹ lời nói của mình bằng các câu hỏi láy đuôi, các câu yêu cầu gián tiếp (Cameron, 1995 [1]; Goodwin, 1980 [10])

• Nam sử dụng ngôn ngữ để giải quyết vấn đề trong khi nữ dùng ngôn ngữ để bày tỏ sự đồng cảm, hợp tác, sẵn sàng hồi đáp, luôn tỏ ra chú ý, lắng nghe (Leaper, 1994 [19]; Maccoby, 1990, 1998 [21], [22]);

• Nam quan tâm tới thông tin, nữ quan tâm tới cảm xúc trong giao tiếp (Tannen, 1990, 1995, 1997);

• Nam sử dụng thức mệnh lệnh, nữ cố che dấu đi những yêu cầu của mình (hidden directives) (Goodwin, 1980 [10]; Sachs, 1987 [25]);

• Nam dễ tranh luận, tranh cãi trong khi nữ cố gắng tìm cách giảng hòa (Tannen, 1990, 1995, 1997).

Ngoài ra, một số nghiên cứu của Jenkins & Cheshire (1990), Coats (1993), Deborah Cameron (1995) khẳng định rằng nữ thành thạo các kỹ thuật sử dụng ngôn ngữ để duy trì cuộc hội thoại diễn ra sinh động cùng một số yếu tố dí dỏm, thông minh. Nữ là những nhà giao tiếp tài năng hơn vì có thể sử dụng chiến lược gợi mở (Elicitory Stratergy) để duy trì hội thoại với mọi đối tượng tham gia. Hơn nữa, nữ cũng có thể tạo dựng mối quan hệ thân thiết, gần gũi, nuôi dưỡng, và cộng tác trong cách sử dụng ngôn ngữ của mình [1].

3.4. Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ giới theo hướng cấu trúc xã hội

Các học giả hiện nay cho rằng cả ba quan điểm trên đều trao cho ngôn ngữ/lời nói của nữ một bộ các đặc điểm riêng, ví dụ như ai cũng tin rằng nữ hợp tác, áp dụng các hành vi ngôn ngữ hướng về phía người nghe; nam thì thể hiện uy quyền, luôn áp dụng các hành vi ngôn ngữ hướng về người nói trong giao tiếp (theo Maltz và Borker, 1982; Cameron, 1995 [1]; Coates, 1986 [4]; Tannen, 1990 [27]). Tuy nhiên luận điểm trên mâu thuẫn với một số nghiên cứu, điển hình là kết quả nghiên cứu của nhóm James và Clarke (1993) [16]. Các nhà khoa học này khi kiểm chứng hàng loạt nghiên cứu về lời nói, đã chỉ ra rằng nam không phải lúc nào cũng thể hiện uy quyền trong lời nói hoặc phụ nữ cũng không phải lúc nào cũng hợp tác. Holmes (1997) [14] đã kết luận rằng ở một vài ngữ cảnh, nữ sẽ thể hiện một số đặc điểm nam tính như: quyết đoán, kiểm soát và thể hiện sự uyên thâm,... vốn đã quy ước riêng cho nam giới, hay nam ứng xử theo quy ước được cho là thuộc phái nữ - nữ tính như: rụt rè/nhẹ nhàng, không quyết đoán,… Greenwood và Freed (1996) [9] cũng từng khẳng định rằng “không phải giới tính hay tuổi tác là yếu tố tạo ra những biến thể khác biệt” trong hành động hỏi trong hội thoại. Thậm chí hành vi có “tính nữ tính cao” như lịch sự cũng không nhất thiết được quy là thuộc về phái nữ. Ở Nhật, nữ được cho là có hành vi lịch sự hơn nam trong phạm vi gia đình; nhưng ngoài xã hội, nam cư xử lịch sự hơn (Smith - Hefner, 1988) [26]. Hoặc ở các nghiên cứu khác, nam và nữ lại tương đối giống nhau, như trong nghiên cứu của Wetzel (1988), khi so sánh nam giới ở Nhật có phong cách nói gần giống với nữ giới ở phương Tây [26]. Từ những mâu thuẫn này, một số nhà khoa học trong đó có Crawford (1995) đề xuất quan điểm kiến tạo xã hội (Social Constructionism) trong nghiên cứu về ngôn ngữ giới [6]. Theo quan điểm này, giới chính là những yếu tố cấu thành xã hội, là một nhân tố cấu thành bản sắc xã hội, được hình thành và bộc lộ ở các mức độ, góc độ khác nhau qua những tương tác giao tiếp hàng ngày; giới như một hệ thống mối tương liên xã hội điều khiển ở cấp độ cá nhân, cấu trúc xã hội và tương tác xã hội; và từ đó tạo nên những đặc điểm ngôn ngữ giới khác nhau. Cụ thể, đặc điểm ngôn ngữ giới sẽ thể hiện khác nhau khi ở trong mối quan hệ với các yếu tố khác nhau như tuổi tác, nghề nghiệp, ví trí trong xã hội, khoảng cách giao tiếp, khu vực giao tiếp,… Thay vì tập trung vào các đặc điểm riêng biệt trong lời nói, các nhà nghiên cứu theo quan điểm này đặt trọng tâm nghiên cứu vào phân tích hội thoại/ giao tiếp. Nó mở ra hướng phân tích cách thức các nhóm xã hội, tầng lớp và mối quan hệ quyền lực tạo thành hội thoại/ giao tiếp, hạn chế sự lựa chọn của người nói, và gây ảnh hưởng đến các loại phản hồi/ lời đáp mà người nói nhận được. Như Talbolt (1998) [30] từng cho rằng “chúng ta là một tập hợp các vị trí chủ thể trong các diễn ngôn khác nhau”. Các vị trí chủ thể của mình bộc lộ trong mọi hoạt động, trong một tổ chức nhất định mà chủ thể tham gia vào. Do đó, vị trí chủ thể này có thể thay đổi liên tục trong các hoạt động giao tiếp của cuộc sống. Tương tự, con người bộc lộ đặc điểm giới khác nhau với các vị trị xã hội, ngữ cảnh/ diễn ngôn khác nhau, điều này dẫn tới ngôn ngữ giới cũng thể hiện khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp, vị trí của đối tượng giao tiếp trong xã hội. Các nhà nghiên cứu theo quan điểm này là Eckert và McConnell-Ginet (1995) [7], Coates (2004) [5], Cameron (2005) [3], Holmes (1997, 2006) [14], [15]. Họ đã có nhiều công trình đóng góp và chứng minh với những luận điểm mới về giới và giới tính, cũng như khẳng định các điều kiện cần và đủ để xác định đặc điểm ngôn ngữ của từng giới.

Một ví dụ mô tả quan điểm nghiên cứu này của Deborah Cameron là đề tài về biểu hiện giới (Performing Gender identity) (theo Coates [5]). Trong công trình này, bà dựa trên khái niệm “biểu hiện giới” (performativity) của Butler, nghiên cứu hội thoại của một nhóm sinh viên nam để xem giới tính của họ thể hiện như thế nào qua cuộc trò chuyện. Cuộc hội thoại được ghi lại khi nhóm đối tượng nghiên cứu đang xem thể thao. Các chàng trai nói về chủ đề thể thao, phụ nữ, rượu và những chàng trai khác. Cameron (1995) [1] đã chỉ ra cách nói mà nhóm sinh viên nam đó thể hiện có đặc điểm liên quan tới cách nói hợp tác của nữ như rào đón, ngắt lời, tuy nhiên vẫn thể hiện đặc điểm cạnh trạnh, làm chủ cuộc nói chuyện. Bà cho rằng phong cách hợp tác hay cạnh tranh trong giao tiếp không đơn giản là tạo nên phong cách giao tiếp của từng giới.

Trong khi quan điểm của hướng ưu thế (Dominance Approach) và khác biệt (Difference Approach) cho rằng giới (sex) vốn dĩ tồn tại độc lập với giao tiếp và không ảnh hướng tới giao tiếp, thì quan điểm Kiến tạo xã hội cho rằng giới (gender) được hình thành trong giao tiếp, do đó cách mà những vai giao tiếp thể hiện trong hội thoại sẽ tạo nên đặc trưng của giới (Mills, 2003) [24].

Những khác biệt về giới trong ngôn ngữ theo quan điểm này được Holmes (2006) [15] tóm tắt như sau:

Có thể nói, cách tiếp cận này được coi là đường hướng nghiên cứu mở giúp các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ giới được tiếp cận linh hoạt hơn và chính xác hơn, không bị đóng khung trong những định kiến về giới như trước đây.

4. Thảo luận

Qua kết quả tổng quan, các hướng nghiên cứu đã tạo nên một bức tranh rõ ràng hơn về sự hình thành và phát triển lĩnh vực nghiên cứu về ngôn ngữ và giới. Mỗi đường hướng đều có những ưu và nhược điểm riêng, nhưng đều có hướng kế thừa, bổ sung, hỗ trợ cho nhau để hoàn thiện hơn mô hình nghiên cứu ngôn ngữ giới. 

Trước đây, các nghiên cứu hầu như chỉ được thực hiện bằng cách tự quan sát và quan sát (Jule, 2008 [17]); phiếu khảo sát ngôn ngữ xã hội, phân tích hội thoại (Zimerman và West, 1975) [33]); áp dụng phân tích diễn ngôn và phân tích diễn ngôn phê phán (Coates, 1996 [4]; Litosseliti, 2006 [20]). Một số nghiên cứu ở thời kì đầu tập trung nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ giới ở cấp độ từ và câu, chẳng hạn: cách sử dụng đại từ nhân xưng của nữ, nữ dùng nhiều từ kính ngữ, từ nhấn mạnh, cụm từ rào đón, câu bị động,… (Lakoff, 1975 [18]). Tuy nhiên, vài thập niên sau đó, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội cho rằng nếu nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ giới chỉ dừng lại ở phạm vi ở từ và câu thì quả là hạn hẹp và mới chỉ đáp ứng khía cạnh cấu trúc của ngôn ngữ (Maltz và Borker, 1982 [23]), Goodwin (1980) [10]; Sachs (1987) [25], Crawford (1995) [6]. Họ cho rằng, nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ giới cần có ngữ liệu là ngôn ngữ trong giao tiếp tự nhiên, tức là từ các tình huống thực tế của cuộc sống. Chính vì vậy, họ đã thu thập ngữ liệu và tập trung vào phân tích diễn ngôn và ngữ dụng, phân tích hội thoại, lý thuyết hành vi ngôn ngữ, hay phân tích theo hướng dân tộc học,… Ở các phạm vi này, đặc điểm ngôn ngữ giới, chiến lược giao tiếp tự nhiên của nam và nữ được phân tích và khái quát qua các ngữ liệu như: hành vi rào đón, câu hỏi láy đuôi, câu hỏi, mệnh lệnh và chỉ thị, chửi thề và ngôn ngữ cấm kị, lời khen,… (Maltz và Borker (1982) [23]; Cameron (1995) [1]; Coates (1986) [4]; Tannen (1990) [27]; James and Clarke (1993) [16].

Về quan niệm giới trong ngôn ngữ, thực tế cho thấy, các nghiên cứu lấy cơ sở giới tính (Sex), điển hình trong nghiên cứu của Lakoff (1975) [18], để đi tìm những khác biệt giới đã gặp phải những hạn chế nhất định, đó là không khái quát được những đặc điểm chung của mỗi giới. Tuy nhiên, sau này các nhà ngôn ngữ học xã hội đã chứng minh tính phù hợp và công bằng khi áp dụng khái niệm “giới” (gender), mang sắc thái của xã hội học, vào nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ giới, như đã đề cập trong nghiên cứu của Holmes (2006) [15], và đã cho những kết quả thú vị và đáng tin cậy về đặc điểm ngôn ngữ giới.

Như vậy, qua các xu hướng nghiên cứu ngôn ngữ giới trên thế giới, bức tranh về đặc điểm ngôn ngữ giới đã được phác họa. Từ các góc độ tiếp cận và các thời kì khác nhau mà đặc điểm ngôn ngữ giới được bộc lộ khác nhau, theo những cách riêng và đã có những ảnh hưởng nhất định.

5. Kết luận

Nhìn chung, các nghiên cứu về ngôn ngữ giới khá thú vị và đa dạng. Bằng nhiều phương pháp khác nhau, phụ thuộc vào hướng tiếp cận khác nhau, các tác giả đã chỉ ra đặc điểm ngôn ngữ giới theo cách riêng của từng hướng. Nếu như các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học truyền thống thường tập trung nghiên cứu các đặc điểm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, cấu trúc ngôn ngữ để tìm ra sự khác biệt ngôn ngữ giới, thì các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội hiện nay lại hướng đến phân tích diễn ngôn, phân tích hội thoại, với các nguồn ngữ liệu khác nhau như các tác phẩm văn học, phim truyện, kịch, truyền hình và tư liệu từ cuộc sống thực tế với những nhân tố tác động như giới, tuổi, điều kiện kinh tế,… Mỗi nghiên cứu đều có những đóng góp quan trọng trong việc xác định đặc điểm ngôn ngữ giới.

Như vậy, qua khảo sát những tài liệu thứ cấp về nghiên cứu ngôn ngữ giới, bài viết đã khái quát được bức tranh ngôn ngữ giới trong nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội. Mặc dù còn tồn tại những mặt hạn chế nhất định nhưng bằng việc kế thừa, sàng lọc và khắc phục những điểm yếu, các nghiên cứu đã tạo ra hệ thống lý luận hoàn chỉnh về ngôn ngữ giới. Bài viết hy vọng sẽ mang tới những góc nhìn rõ ràng hơn về các quan niệm và hướng nghiên cứu trong lĩnh vực này và là nguồn tham khảo hữu ích cho những nghiên cứu khác về giới trong tương lai.

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Cameron D., Verbal hygiene, London: Routledge, 1995.

[2] Cameron D., Theoretical debates in feminist linguistics: questions of sex and gender, in Wodak R. (ed.), Discourse and Gender, Thousand Oaks, CA: Sage, 21-36, 1997.

[3] Cameron D., Language, Gender, and Sexuality: Current Issues and New directions, Applied Linguistics 26/4: 482-502, Oxford University Press, 2005.

[4] Coates J., Women, men, and language: Studies in language and, linguistics, London: Longman, 1986.

[5] Coates J., Women, men and language: A sociolinguistic Account of Gender differences in Language (3rd ed), New York: Routledge,  5-7, 2004.

[6] Crawford M., Talking difference: On gender and language, Thousand Oaks, CA: Sage, 1995.

[7] Eckert P. & McConnell-Ginet S., Constructing meaning, constructing selves: Snapshots of language, gender, and class from Belten High, In Hall K. & Bucholtz M. (Eds.), Gender articulated: Language and the socially constructed self (469-507), New York, NY: Routledge, 1995.

[8] Fishman P., Interaction: The Work Women Do, University of California, Santa Barbara, Holmes, 1983.

[9] Freed Alice F. & Greenwood A., Women, men, and type of talk: What makes the difference?, Language in Society, 25, 1-26, 1996.

[10] Goodwin M.J., Directive-response speech sequences in girls’ and boys’   task activities, In McConnell-Ginet S., Borker R., Furman N. (eds), Women and language in literature and society, New York: Praeger, 153-173, 1980.

[11] Graddol D. & Swann J., Gender Voices, Oxford: Blackwell, 1989.

[12] Holmes J., Hedging your bets and sitting on the fence: Some evidence of hedges as support structures, Te Reo, 27, 291-304, 1984.

[13] Holmes J., Functions of ‘you know’ in women’s and men’s speech, Language in Society, 15(1), 1-22, 1986.

[14] Holmes J., Women, language and identity, Journal of Sociolinguistics, 2, 195-223, 1997.

[15] Holmes J., Gendered Talk at Work: Constructing Gender Identity through Workplace Discourse, Oxford: Blackwell, 2006.

[16] James D. & Clarke S., Women, men, and interruptions: A critical review, In Tannen D. (Ed.), Gender and conversational interaction (231-280), New York, NY: Oxford University Press, 1993.

[17] Jule A., Beginner’s guide to Language and Gender, MM Textbooks, 2008.

[18] Lakoff R., Language and woman's place,  New York: Harper and Row, 1975.

[19] Leaper C., Exploring the consequences of gender segregation on social relationships, In Leaper C. (Ed.), Childhood gender segregation: Causes and consequences (67-86), San Francisco: Jossey-Bass, 1994.

[20] Litosseliti L., Gender and language: Theory and practice, Routledge Taylor & Francis Group, London and New York, 2013.

[21] Maccoby E.E., Gender and relationships: A developmental account, American Psychologist, 45, 513-520, 1990.

[22] Maccoby E.E., The two sexes: Growing up apart, coming together, Cambridge: Belknap Press, 1998.

[23] Maltz & Borker, A cultural approach to male-female miscommunication, In Language and Social Identity, Cambridge University Press, 1982.

[24] Mills S., Third wave feminist linguistics and the analysis of sexism, Discourse Analysis Online, 2003. http://www.shu.ac.uk0daol0articles0open0200300010mills2003001-01.html.

[25] Sachs J., Preschool boys’ and girls’ language use in pretend play, In Philips S.U., Steele S. & Tanz C., Language, gender and sex in comparative perspective, Cambridge University Press, 178-88, 1987.

[26] Smith-Hefner N.J., Women and politeness: The Javanese example, Language in Society, 17(4), 535-554, 1998, https://doi.org/10.1017/S0047404500013087.

[27] Tannen D., You Just Don’t Understand, Women and Men in Conversation, New York: Ballantine Books, 1990.

[28] Tannen D., The Power of Talk: Who Gets Heard and Why, Harvard Business Review, September, v.73, n.5, 138-148, 1995.

[29] Tannen D., Women and men talking: an interactional sociolinguistic approach, In Walsh M.R. (ed.), Women, men, and gender (82-90), New Haven, CT and London: Yale University Press, 1997.

[30] Talbot M., Language and Gender: An Introduction, Cambridge: Polity Press, 1998.

[31] West C., & Zimmerman D.H.,, Small insults: A study of intemrptions in cross-sex conversations between unacquainted persons, In Thome B., Kramarae C. & Henley N. (Eds.), Language, gender and society (f02-II7), Rowley, MA: Newbury House, 1983.

[32] Zimmerman D.H. & West C., Sex roles, interruptions, and silences in conversations, In Thorne B. & Henley N. (Eds.), Language and gender: Differences in dominance (105-129), Rowley, MA: Newbury, 1975.

 

HOÀNG THU BA