TÊN PHỐ Ở ĐÔ THỊ SÀI GÒN THỜI KỲ PHÁP THUỘC (QUA TÀI LIỆU GUIDE HISTORIQUE DES RUES DE SAIGON CỦA ANDRÉ BAUDRIT)

19/11/2021

Mở đầu

Đối với cư dân đô thị, tên phố là một yếu tố đặc biệt quan trọng bởi chúng được sử dụng trong nhiều hoạt động thường ngày. Tên phố là địa chỉ cư trú, là địa chỉ nơi làm việc, là địa chỉ của các cửa hàng dịch vụ hay các công sở. Vì vậy, có thể nói không ngoa rằng ở đô thị “một cá nhân không có địa chỉ thì không có căn cước/căn tính đô thị” [9, p.21](1). Tên phố là một yếu tố gắn liền với không gian, với hình ảnh của đô thị đồng thời lại thể hiện một cách hàm ẩn những khía cạnh lịch sử, văn hóa của đô thị đó. Vì thế, Herbert Mayer (1993) đã cho rằng tên phố “rọi ánh sáng xuống cả các sự kiện đương đại lẫn truyền thống và chúng phản ánh sự thay đổi các điều kiện và bối cảnh văn hóa, xã hội, chính trị, kinh tế […] Lịch sử của tên phố luôn luôn là lịch sử của đô thị”(2) (Dẫn theo Verheyen [14, p.45].

Các nghiên cứu về tên phố của nhiều đô thị trên thế giới cho thấy trong giai đoạn đầu khi đô thị mới ra đời, tên phố giống như một bức tranh miêu tả cảnh quan thiên nhiên, miêu tả các hoạt động sinh hoạt hàng ngày và hoạt động sản xuất của con người. Giai đoạn này, vì chưa chịu sự tác động của các thể chế quản lý đô thị nên tên phố vẫn mang đậm dấu ấn tự phát của người dân. Người dân gọi tên phố theo tên chủ đất, theo tên công trình tiêu biểu hay theo một đặc điểm dễ nhớ, dễ miêu tả nào đó trên con phố.

Cho đến nay, các tài liệu và công trình nghiên cứu về tên phố trên thế giới và Việt Nam thường tập trung vào việc nghiên cứu mối quan hệ giữa tên phố và các khía cạnh chính trị - xã hội, đặc biệt tại thời điểm xảy ra các xung đột chính trị, xung đột sắc tộc hoặc diễn ra sự thay thế các thể chế cầm quyền tại quốc gia hoặc đô thị (Verheyen, 1997; Azaryahu, 1986; Alderman, 1996; Yeoh, 1992; Phùng Thị Thanh Lâm, 2016). Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu lại có xu hướng khảo sát tên phố như một loại di chỉ văn hóa để từ đó có thể khai thác các thông tin đa chiều về lịch sử phát triển của đô thị (Shoval, 2013; Post và Alderman, 2014; Vuolteenaho và Ainiala, 2009).

Trong bài viết này, chúng tôi sử dụng tài liệu Guide Historique des Rues de Saigon của André Baudrit để phân tích quá trình đặt đổi tên phố và mở rộng đô thị tại đô thị Sài Gòn trong thời kỳ Pháp thuộc. Mặc dù tài liệu của Baudrit không đề cập đến lịch sử đường phố ở đô thị Chợ Lớn, một trong hai thành phố quan trọng nhất của Nam Kỳ trong thời kỳ thuộc địa, nhưng chúng tôi vẫn dành một phần dung lượng của bài viết để đề cập đến hệ thống tên phố của đô thị Chợ Lớn nhằm đưa ra một cái nhìn có tính so sánh về hệ thống tên phố ở hai đô thị này.

1. Vài nét về đô thị Sài Gòn - Chợ Lớn thời kỳ Pháp thuộc

Trước khi Gia Định bị quân đội Pháp đánh chiếm, vùng đất Nam bộ là nơi “dân thưa đất rộng, dân làm ăn không hết” [4, tr.15]. Khu vực phố thị Bến Thành hay còn gọi là Bến Nghé (được chính phủ thuộc địa đổi tên thành thành phố Sài Gòn từ sau năm 1859) vốn là nơi “nhà cửa trù mật, theo ven sông họp chợ. Ở đầu bến, lệ cứ vào tháng đầu xuân ngày Tế mạ thì diễn duyệt thủy binh, bên có đò ngang tiếp chở khách lên bờ […] hai bên cầu có nhà phố ngói bách hóa tụ họp. Ven sông thì thuyền buôn lớn nhỏ đi lại nườm nượp” (Nguyễn Đình Đầu [1, tr.41]). Sài Côn (hay Sài Gòn tức thành phố Chợ Lớn sau năm 1859) là một nơi sầm uất “…nơi chợ có đường thông ra tứ phía đi liên lạc như hình chữ điền, nhà cửa phố xá liên tiếp thềm mái cùng nhau, người Hán người Thổ ở chung lộn dài độ ba dặm, đủ cả hàng hóa trăm thức, ở bến sông nam và bắc không thiếu món gì […] phố xá trù mật, thường năm đến ngày Nguyên đán có tổ chức cuộc chơi vân xa và đánh đu tiên nên gọi là Chợ Lớn” [3, tr.74].

Sau thời gian bôn ba, chúa Nguyễn Phúc Ánh đã cho xây dựng tòa thành Bát Quái hay còn gọi là thành Quy (1790) tại thôn Tân Khai huyện Bình Dương (thuộc phạm vi Quận 1 ngày nay). Sau sự biến Lê Văn Khôi, tòa thành này bị phá hủy theo lệnh của vua Minh Mạng và sau đó một tòa thành mới, nhỏ hơn gọi là thành Phụng được xây ở phía bắc của tòa thành cũ. Sau khi quân Pháp chiếm được Gia Định, tòa thành Phụng bị quân Pháp đặt mìn phá hủy [4, tr.68]. Có thể nói, với việc tòa thành bị phá hủy, mô hình đô thị bao gồm tòa thành và các thị (chợ) đã biến mất và thay vào đó là sự ra đời của một mô hình đô thị mới chia thành các khu vực có công năng khác nhau theo kiểu phương Tây.

Sau khi quân Pháp chiếm được Gia Định, tên Sài Gòn vốn được người bản xứ dùng để gọi “vùng buôn bán Chợ Lớn”, dần được người Pháp sử dụng để gọi khu vực phố thị Bến Nghé. Bởi từ Bến Nghé quá khó đọc và để tránh những sự lầm lẫn, quân Pháp “ép các sắc dân Nam, Chà, Chệc đều phải bỏ danh từ “Bến Nghé” và để thay vào đó Tây ép dùng hai tiếng “Sài Gòn” vừa kêu giòn vừa dễ đọc” [4, tr.49]. Bằng Nghị định ngày 15.6.1865 thành lập thành phố Sài Gòn (Ville de Saigon) và Nghị định ngày 14.7.1865 thành lập thành phố Chợ Lớn (Ville de Cholon), chính quyền thuộc địa đã chính thức hóa tên gọi của hai thành phố này. Đến năm 1931, bằng Nghị định ngày 27.4.1931, chính quyền thuộc địa đã sáp nhập hai thành phố và gọi là Région de Saigon - Cholon (Vùng Sài Gòn - Chợ Lớn) có tổng diện tích là 51km2 [2, tr.18]. Phạm vi quy hoạch này gần như không có gì thay đổi cho đến hết thời kỳ Pháp thuộc (1945). Trong quá trình xây dựng đô thị Sài Gòn, chính quyền thuộc địa đã làm thay đổi cảnh quan khu vực này thông qua việc san lấp sông, đầm hồ hoặc nạo vét mở rộng các con kinh vốn nhỏ hẹp trước đó. Ví dụ, đại lộ Chaner (nay là đường Nguyễn Huệ) được xây dựng trên một con kênh bị lấp đi hay đường Boresse (nay là đường Yersin) được mở trên một khu vực đầm lầy. Chính quyền thuộc địa cũng cho lấp những đầm lầy ngăn cách giữa hai đô thị Sài Gòn và Chợ Lớn để mở đại lộ Galliéni (nay là đường Trần Hưng Đạo) [2, tr.51].

So sánh với không gian các quận nội thành của thành phố Hồ Chí Minh ngày nay, phạm vi không gian thành phố Sài Gòn trong tài liệu của André Baudrit tương đương với không gian Quận 1 và phần lớn Quận 3. Không gian thành phố Chợ Lớn tương đương với không gian Quận 5, và một phần không gian các Quận 6 và Quận 8.

2. Phương thức đặt tên phố ở đô thị Sài Gòn thời kỳ Pháp thuộc

Như chúng tôi đã nói ở phần mở đầu, trước khi thực dân Pháp chiếm cứ Sài Gòn, khu vực này vẫn còn mang dáng vẻ của một thị trấn phương đông bao gồm một tòa thành (thành Bát Quái hay còn gọi là thành Quy và sau đó là thành Phụng) và một vài trục đường chính đi đến các địa phương khác. Bao xung quanh tòa thành là một số kênh rạch và làng mạc3. Sau khi thành Gia Định bị thất thủ dẫn đến việc tòa thành Phụng bị phá hủy (1859), chính quyền thuộc địa đã nhanh chóng lên kế hoạch mở mang các con đường đô thị(4).

Tài liệu của André Baudrit cho thấy giai đoạn đầu thuộc địa, Sài Gòn có tất cả 26 con đường được đánh số và đến ngày 1.02.1865, thống đốc La Grandière ký nghị định đổi tên các phố này [17, p.135]. Trên thực tế, việc thống đốc La Grandière ký nghị định đổi tên phố giống như một bước chính thức hóa các tên phố bởi trong một số bản đồ thành phố Sài Gòn xuất hiện trước năm 1865 đã thấy có nhiều phố có tên bên cạnh những phố được đánh số. Chẳng hạn, trong bản đồ Ville et Port de Saigon(5) do hai kỹ sư thủy văn M.M.F. Vidalin và G. Héraud vẽ năm 1864, các tên Rue Isabelle II, Rue Palanca, Rue Dayot, Rue Catinat,... đã xuất hiện bên cạnh một số phố còn đánh số như Rue No.3, Rue No.11. Như vậy, mặc dù chúng tôi chưa có đủ tài liệu để khẳng định nhưng có thể đặt ra một giả thiết là trong giai đoạn đầu thời kỳ thuộc địa, việc đặt tên phố có vẻ được các kiến trúc sư kiến tạo đô thị Sài Gòn tiến hành đồng thời với việc vẽ bản đồ quy hoạch thành phố.

Giai đoạn đầu thời kỳ thuộc địa, có khá nhiều tên phố Sài Gòn đượt đặt theo các đặc điểm nổi bật ở phố đó. Các đặc điểm này rất đa dạng, chẳng hạn, có phố được gọi tên theo đặc điểm cư dân của phố đó như phố người Hoa (Rue aux Fleurs) [17, p.223]. Có phố được gọi tên theo những vật chiếu là những công trình nổi bật của phố, ví dụ như rue de l'Eglise de Xóm Chiếu/Phố nhà thờ Xóm Chiếu (sau đổi thành rue La Fayette), rue du cimetière de Xóm Chiếu/Đường Nghĩa địa Xóm Chiếu (sau đổi thành rue Mousquet),... Có nhiều phố được gọi theo hướng của điểm đến, ví dụ: Rue Latérale Sud de la gare/Phố phía Nam của nhà ga (sau đổi thành rue du Colonel Grimaud), route de Cholon/đường [đi] Chợ Lớn (sau đổi thành rue de Lanessan), Boulevard de l'Abattoir/ Đại lộ lò mổ (năm 1917 đổi thành đại lộ Kitchener). Về sau, hầu hết các tên như vậy đều được đổi sang thành tên nhân vật lịch sử; chỉ còn lại rất ít tên phố đặt theo đặc điểm này, ví dụ như phố Rédemptoristes vẫn giữ tên đặt theo tên một tu viện toạ lạc trên con phố này. Ngoài ra, những khu đất tư cũng có thể coi là một đặc điểm để tạo thành tên phố. Ví dụ, tên phố Farinolle ra đời do cha xứ Farinolle Angtoine mở phố tại khu đất của ông vào năm 1875 [17, p.217]. Về sau chính quyền cũng thừa nhận các tên phố như vậy và liệt kê vào trong danh sách tên phố của thành phố.

Bên cạnh việc tên phố phản ánh các đặc điểm nổi bật của phố, có nhiều phố được người Pháp đặt theo tên của các thành phố lớn trên thế giới như Rue de Phnom-Penh (sau đổi thành Rue Lafont), rue de Hong Kong (sau đổi thành rue Cardi), rue de Bangkok (sau đổi thành rue de Massiges),... Một số tên các đảo và quần đảo của Việt Nam cũng được dùng để đặt tên phố trong thời kỳ này như rue Paracels/Phố Hoàng Sa (sau đổi thành rue Colombert) hay rue de Poulo-Condore/Phố Côn Đảo (sau đổi thành rue Roland Garros).

Có thể thấy, thời gian đầu, có vẻ như chính quyền thuộc địa chấp nhận việc dùng tên người vẫn đang sống để đặt tên cho phố. Quan sát một số tên phố xuất hiện trên bản đồ Sài Gòn năm 1864(6), chúng tôi thấy có nhiều phố được đặt theo tên nhân vật lịch sử trong khi những nhân vật đó vẫn đang còn sống tại thời điểm đặt tên. Ví dụ, tên rue Charner có trên bản đồ năm 1864 nhưng đô đốc Charner mất năm 1869. Tương tự như vậy, hầu tước Chasseloup-Laubat mất năm 1873 trong khi đại lộ mang tên ông cũng đã xuất hiện trên bản đồ năm 1864. Cũng trên bản đồ này, chúng tôi còn thấy có tên phố Bonard nhưng nhân vật này qua đời năm 1867 [17, p.117]. Hiện tượng này còn thấy xuất hiện rải rác trong những năm sau đó. Ví dụ, tên phố La Grandière được chính quyền thành phố đặt vào năm 1870 nhưng đô đốc La Grandière qua đời vào năm 1876 [17, p.278]. Có thể nói, nếu so sánh với cách đặt tên phố ở Hà Nội đầu thời kỳ thuộc địa thì thấy sự khác nhau rõ rệt. Tại Hà Nội, những tên phố mang tên nhân vật lịch sử xuất hiện sớm nhất trong thời kỳ Pháp thuộc hầu hết đều là tên của những người đã chết trong quá trình bình định miền Bắc Việt Nam (Phùng Thị Thanh Lâm, 2020:216-217). Việc lấy tên người còn sống để đặt tên cho phố xuất hiện khá hiếm hoi như trường hợp tên phố Jean Dupuis [10, p.218].

Sau giai đoạn bình định thuộc địa, việc đặt tên phố tại đô thị Sài Gòn có sự tham gia của các uỷ viên hội đồng thành phố. Tài liệu của André Baudrit cho thấy các thành viên hội đồng thành phố là người Việt Nam có vai trò nhất định trong việc đặt tên phố theo tên nhân vật lịch sử là người Việt Nam. Chẳng hạn, năm 1926, một uỷ viên hội đồng thành phố là ông Nguyễn Văn Độ đã đề xuất lấy tên hai người Việt Nam để đặt tên phố. Sau đề xuất này ba năm, đến năm 1929, tên của ông Nguyễn Văn Đượm được chính quyền thành phố đồng ý dùng để đặt tên cho một phố ở khu vực Tân Định [17, p.350]. Tương tự như vậy, các tên phố Trương Minh Ký, Phan Thanh Giản ra đời cũng là do đề xuất của các thành viên hội đồng thành phố là người Việt Nam.

Trong quá trình đặt, đổi tên phố, việc thay đổi thể chế chính trị tại chính quốc cũng ảnh hưởng đến việc đặt/đổi tên phố ở các đô thị thuộc địa. Sau khi thiết lập thể chế Cộng hoà, vào năm 1870, chính phủ Pháp đã yêu cầu đổi các tên không còn phù hợp với tình hình mới, ví dụ như các tên gợi nhớ đến Hoàng gia, đế chế. Ở Sài Gòn, các phố Rue Palanca và Rue Isabelle II được đặt vào năm 1865 cũng bị sáp nhập thành một phố và đổi tên thành Rue d'Espagne [17, p.211].

Thống kê từ tài liệu của Andre Baudrit cho thấy chính quyền thành phố Sài Gòn thời kỳ thuộc địa đặt tên phố theo tên nhân vật lịch sử là chủ yếu. Trong tổng số 179 tên phố được Baudrit liệt kê thì có đến 153 tên phố đặt theo tên người trong đó có 10 phố đặt theo tên nhân vật lịch sử là người Việt Nam. Có 20 tên phố đặt theo các địa danh của các thành phố, thôn làng hay sông ngòi ở châu Âu nơi quân đội Pháp tham chiến và chiến thắng trong giai đoạn Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918). Số phố ít ỏi còn lại được đặt tên theo đặc điểm nổi bật của phố như Rue de Jardins/Phố Vườn, rue Rédemptoristes/Phố Tu viện dòng Chúa Cứu thế hay theo tên sông ngòi, làng mạc của đất Nam bộ như Rue de Mekong/Phố sông Mekong, Rue de Tân Định/Phố Tân Định. Nếu chúng ta biết trước khi Pháp chiếm Sài Gòn năm 1859, Sài Gòn là nơi tập trung dân cư khá đông đúc và có khoảng 40 làng [2, tr.13] thì chúng ta có thể nhận ra cách đặt tên này rất khác so với cách chính quyền thuộc địa áp dụng với đô thị Hà Nội. Cụ thể, cho đến năm 1945, chính quyền thuộc địa ở Hà Nội đặt tên 15 phố theo tên các thôn, phường, trại truyền thống của Hà Nội và đặt tên 46 phố cổ Hà Nội theo tên các loại hàng hóa [10, p.164-184, 297-302].

Trong khi phân tích tài liệu chúng tôi nhận thấy có một số tên phố thể hiện sự chuyển hóa khá phức tạp giữa tên nhân vật lịch sử và tên các loại khác. Chẳng hạn, tên phố La Fayette được Tòa Thị chính Sài Gòn chọn nhằm tôn vinh phi đội Escadrille La Fayette của Pháp, một phi đội bao gồm 5 phi công người Mỹ tham chiến trong Thế chiến thứ nhất. Tuy nhiên, tên của phi đội này lại bắt nguồn từ tên của hầu tước La Fayette, một người Pháp đã tham gia vào cách mạng Mỹ và được coi như biểu tượng của sự hợp tác Pháp - Mỹ [17, p.274-275]. Tương tự như vậy, Primauguet là một tướng của Pháp ở thế kỷ XV. Sau đó tên ông được đặt cho tên chiến thuyền tham gia vào chiến tranh ở Đông Dương và tên phố Sài Gòn lại được đặt theo tên chiến hạm này [17, p.1943:393-394].

Số liệu thống kê từ tài liệu của Baudrit cho thấy giai đoạn 1901 - 1920 chính quyền thuộc địa Sài Gòn đặt, đổi tên nhiều phố nhất (82/179 phố). Tiếp theo là nhóm tên phố được đặt trước năm 1900 (53/179 phố). Cuối cùng là nhóm tên phố đặt trong giai đoạn 1921 - 1943 (44/179 phố). Trong số 143 phố được đặt tên theo nhân vật lịch sử là người Pháp hay Châu Âu, nhóm nhân vật lịch sử có liên quan đến Chiến tranh thế giới thứ Nhất chiếm 33/143 phố và nhóm nhân vật lịch sử có liên quan đến quá trình bình định và khai thác thuộc địa ở Đông Dương là 28/143 tên phố.

Kết quả thống kê cho thấy các tên phố đặt trước năm 1900 thường đặt theo tên nhân vật lịch sử là những người có liên quan đến việc truyền giáo (rue Kerlan, rue Chaigneau, rue Colombert,...) hoặc liên quan đến quá trình bình định thuộc địa (boulevard Bonard, rue Boresse, rue Chasseloup - Laubat, rue Dayot,...). Sau khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, chính quyền thuộc địa Sài Gòn đã đặt và đổi tên 34 phố theo tên các nhân vật lịch sử tham gia cuộc chiến tranh này trong đó có 33 nhân vật là người Pháp và người châu Âu (rue Boudonnet, rue Cailar, rue Cavel Louisa,...). Đặc biệt, chính quyền thuộc địa đã sử dụng đến 20 địa danh, nơi quân đội Pháp đã chiến đấu trong Chiến tranh thế giới thứ Nhất, để đặt tên cho đường phố Sài Gòn, ví dụ, Rue de Louvain (tên một thành phố ở Bỉ), Rue de Marne (tên một con sông ở Paris nơi quân đội Pháp đã có hai trận chiến với quân đội Đức), Rue de Massiges (tên một làng ở gần sông Marne nơi quân đội Pháp đánh nhau với quân đội Đức),... Tên các nhân vật lịch sử là người Việt Nam thường được chính quyền thuộc địa lấy để đặt tên cho phố vào giai đoạn sau Chiến tranh thế giới thứ Nhất. Ví dụ, phố Đỗ Hữu Vị đặt vào năm 1917, phố Huỳnh Quang Tiền đặt vào năm 1920, phố Lê Văn Duyệt đặt vào năm 1929, phố Nguyễn Du đặt vào năm 1943, phố Trương Minh Ký đặt vào năm 1943,... Trong quá trình đặt đổi tên, một số tên phố bị phàn nàn bởi tên quá dài và khó phát âm như trường hợp tên phố Eyriaud des Vergnes [17, p.213].

3. So sánh tên phố ở đô thị Sài Gòn và đô thị Chợ Lớn trong thời kỳ thuộc địa

Trước khi quân đội Pháp đánh chiếm Nam Kỳ, Chợ Lớn là một thành phố có cư dân đông đúc. Năm 1865, Chợ Lớn đã có 31 đường, ban đầu được đánh số thứ tự sau đổi sang tên người hoặc các loại khác [1, tr.130-133]. Thật đáng tiếc là Baudrit không biên soạn lịch sử các con phố ở Chợ Lớn nên chúng tôi phải sử dụng một số bản đồ thành phố Chợ Lớn có kèm theo danh sách tên phố được xuất bản trong thời kỳ thuộc địa để phân tích như Plan de Saigon - Cholon xuất bản năm 1923(7), Plan de ville de Cholon xuất bản năm 1942(8), và Plan de Cholon xuất bản năm 1947(9).

Sau khi thống kê, chúng tôi thấy vào năm 1942, Chợ Lớn có 158 phố. Tuy số tên phố đặt theo tên nhân vật lịch sử vẫn chiếm tỉ lệ cao nhất (56/158 phố) nhưng có thể thấy tỉ lệ này khá thấp so với tên phố ở Sài Gòn cùng thời kỳ (153/179 phố). Trong số này có 9 phố đặt theo tên nhân vật lịch sử người bản xứ (ví dụ như các phố Petrus Ký, Tổng đốc Phương, Gia Long, Trần Thanh Cần, Hui Bon Hoa,…). Đặc biệt, ngoài nhóm tên phố đặt theo tên nhân vật lịch sử, các nhóm tên phố ở Chợ Lớn rất đa dạng bao gồm tên phố đặt theo nghề nghiệp của cư dân, tên phố đặt theo các đặc điểm địa lý của phố, tên phố đặt theo tên các thôn làng, tên phố đặt theo cách đánh số,... Đặc điểm này khác hẳn với hệ thống tên phố của Sài Gòn nơi hầu như chỉ có hai nhóm tên phố là nhóm đặt theo tên nhân vật lịch sử và nhóm đặt theo các địa danh mượn từ Châu Âu. Ngoài nhóm tên phố đặt theo tên nhân vật lịch sử chiếm tỉ lệ cao nhất, ba nhóm tên phố bao gồm nhóm đặt theo tên thôn làng, nhóm đặt theo số thứ tự, và nhóm đặt theo đặc điểm địa lý chiếm tỉ lệ khá cao và khá tương đương nhau. Nhóm phố đặt theo tên thôn làng gồm 29/158 phố, nhóm phố đặt theo cách đánh số gồm 25/158 phố và nhóm phố đặt theo đặc điểm địa lý nổi bật của phố gồm 25/158 phố.

Nếu như các tên phố đặt theo tên nhân vật lịch sử người Pháp và Châu Âu cùng với một loạt tên phố mang địa danh Châu Âu khiến Sài Gòn mang hình ảnh của một đô thị phương tây thật sự thì những con phố mang tên thôn làng hay được đặt tên theo các nghề nghiệp của cư dân ở đây khiến cho Chợ Lớn mang đậm hình ảnh của một đô thị bản địa. 25 con phố còn đang đánh số chưa được đặt tên chính thức khiến cho Chợ Lớn có hình ảnh của một khu vực đang được đô thị hóa với nhiều con đường còn đang xây dựng dở dang. Các lò sản xuất gốm nằm dọc theo một con kênh khiến cho kênh này được đặt tên là Canal des Poteries (Kênh Lò Gốm) và cũng tạo thành tên của con đê Quai de Lò Gốm. Các đặc điểm của một khu vực có nhiều ngành sản xuất liên quan đến hàng hải cũng phản ánh trong các tên phố ở đây ví dụ như con đường đê có xưởng đóng tàu (Quai des Jonques) nằm ở bên trái rạch Tàu Hũ (Arroyo Chinois) hay các con phố thủy thủ (rue des Marins, rue des Matelots). Nếu như Sài Gòn có đến 20 tên phố đặt theo các địa danh ở Pháp và châu Âu thì ở Chợ Lớn chỉ có hai con phố nhỏ mang đặt theo địa danh châu Âu là rue de Parisrue de Nancy và một con đê có tên Quai du Cambodge. Ngược lại, các tên phố cũng phản ánh vai trò là một trung tâm giao thương với các vùng lân cận của Chợ Lớn như rue de Mỹ Tho, route Sài Gòn - Cà Mau, route de Gò Công. Một số đặc trưng tự nhiên và nhân văn khác của Chợ Lớn cũng được phản ánh qua tên phố như Rue de Cây Mai, Rue des Tamariniers (phố Cây Me), Rue l'Eglise (phố Nhà Thờ), Rue des Théâtre (Phố Nhà hát), rue de Pagode (Phố Chùa),...

Có thể nói, hệ thống tên phố ở Sài Gòn tạo nên hình ảnh một đô thị thuộc địa đậm đặc tính quân sự giai đoạn đầu rồi sau mới dần trở thành một đô thị thuộc địa dân sự. Trong khi đó, bởi quá trình mở mang và xây dựng đô thị Chợ Lớn diễn ra muộn hơn so với Sài Gòn nên tên các mạch giao thông thể hiện hình ảnh một đô thị sản xuất và thương mại mang nhiều dấu ấn truyền thống.

Kết luận

Có thể nói, đối với việc nghiên cứu đô thị thì nghiên cứu lịch sử tên phố là một bình diện rất quan trọng bởi quá trình đặt, đổi tên phố phản ánh quá trình xây dựng và phát triển của các đô thị. Đô thị Sài Gòn nói riêng và vùng đô thị Sài Gòn - Chợ Lớn nói chung trong thời kỳ thuộc địa là một không gian nằm trong giai đoạn vừa mang tính chất kết thúc thời kỳ phát triển đô thị theo mô hình tòa thành - làng mạc ở Sài Gòn và mô hình khu chợ buôn bán ở Chợ Lớn, đồng thời vừa mang tính chất là giai đoạn khởi đầu cho thời kỳ phát triển đô thị theo hướng công năng về sau. Từ góc độ này, tài liệu Guide Historique des rues de Saigon của Andre Baudrit là một tài liệu quan trọng đối với các nghiên cứu về tên phố và lịch sử đô thị Sài Gòn. Các thông tin trong tài liệu của Baudrit có thể giúp nhà nghiên cứu tái hiện lại cảnh quan đô thị Sài Gòn trước thời kỳ Pháp thuộc, tái hiện lại quá trình xây dựng đô thị ở Sài Gòn theo mô hình phương tây từ thuở ban đầu. Đặc biệt, tài liệu của Baudrit giống như một tài liệu lưu trữ giúp nhà nghiên cứu khảo sát các thông tin về quá trình xây dựng chính quyền đô thị và thông tin về các nhân vật lịch sử một cách đầy đủ, chi tiết. (*)

 

CHÚ THÍCH

 (*) Bài viết này là một phần kết quả của đề tài nghiên cứu do Quỹ POSCO TJ Park tài trợ kinh phí năm 2017 - 2018. Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn!

1 Nguyên văn tiếng Anh như sau: “An individual without an address has no civic identity”

2 Nguyên văn tiếng Anh như sau: “street names always shed light on contemporary events as well as on traditions; and they reflect changing societal, economic, political, social, and cultural conditions and circumstances. […] the history of street names is always the history of a city”

3 Xin xem Bản đồ Gia Định và phụ cận do Trần Văn Học vẽ năm 1815 tại địa chỉ truy cập: https://hinhanhvietnam.com/ban-do-sai-gon-xua/

4 Xin xem Bản đồ Sài Gòn và phụ cận (Plan de la ville de Saigon et Environs) được vẽ vào ngày 1.3.1859 tại địa chỉ truy cập: https://hinhanhvietnam.com/ban-do-sai-gon-xua/. Lúc này thành Phụng vẫn còn nhưng chính quyền thuộc địa đã quy hoạch mở các con đường xung quanh tòa thành. Tuy nhiên, qua Bản đồ Sài Gòn do Đại tá Victor Olivier vẽ vào năm 1790, có thể thấy, việc quy hoạch Sài Gòn thành một đô thị kiểu phương tây đã diễn ra từ giai đoạn này. Xin xem tại địa chỉ truy cập:

https://gallica.bnf.fr/ark:/12148/btv1b53225310n/f1.item.r=Plan%20de%20la%20ville%20de%20Saigon%201790.zoom.

5 Xin xem tại địa chỉ truy cập: Ville et port de Saigon / Plan levé en 1864 par MM F. Vidalin; et G. Héraud... | Gallica (bnf.fr).

6 Xin xem tại địa chỉ truy cập: https://gallica.bnf.fr/ark:/12148/btv1b84391461/f1.item.zoom.

7 Xin xem tại địa chỉ truy cập: Plan de Saïgon-Cholon | Gallica (bnf.fr).

8 Plan de Cholon (1942). Xin xem ở địa chỉ truy cập: Plan de Cholon | Gallica (bnf.fr).

9 Xin xem tại địa chỉ truy cập: Plan de Saigon-Cholon | Gallica (bnf.fr).

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Đình Đầu, Địa lý Gia Định - Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh, 2007.

[2] Trần Hữu Quang, Hạ tầng đô thị Sài Gòn buổi đầu, Nxb. Tổng hợp Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh, 2016.

[3] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Tập thượng, Tu Trai Nguyễn Tạo dịch Nha Văn hóa - Bộ Quốc gia Giáo dục, Sài Gòn, 1959.

[4] Vương Hồng Sển, Sài Gòn năm xưa, Nxb. Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh, 2013.

[5] Nguyễn Q. Thắng, Nguyễn Đình Tư, Đường phố Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2001.

[6] Phùng Thị Thanh Lâm, Tên phố Hà Nội từ cuối thế kỷ XIX đến nay, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2020.

[7] Alderman D.H., Creating a new geography of Memory in the South: (Re)naming of streets in honor of Martin Luther King, Jr. Southeastern Geographer, 36(1), 51–69. JSTOR, 1996.

[8] Azaryahu M., Street Names and Political Identity: The Case of East Berlin, Journal of Contemporary History, 21(4), 581-604, JSTOR, 1986.

[9] Farvacque-Vitkovic C., Godin L., Leroux H., Chavez R., & Verdet F., Street Addressing and the Management of Cities, The World Bank. https://doi.org/10.1596/0-8213-5815-4, 2005.

[10] Phùng Thị Thanh Lâm, (Re)naming Hanoi streets after historical people from colonialism to postcolonialism: Creation and recalling collective memories, Onoma, 51, 25-44, https://doi.org/10.34158/ONOMA.51/2016/3, 2016.

[11] Post C.W. & Alderman D.H., Wiping New Berlin off the map: Political economy and the de-Germanisation of the toponymic landscape in First World War USA, Area, 46(1), 83-91, 2014.

[12] Særheim I., Street Names and Identity, Official Naming in a European Capital of Culture, 2009.

https://yorkspace.library.yorku.ca/xmlui/bitstream/handle/10315/4027/icos23_860.pdf;sequence=1

[13] Shoval N., Street-naming, tourism development and cultural conflict: The case of the Old City of Acre/Akko/Akka, Transactions of the Institute of British Geographers, 38(4), 612-626, JSTOR, 2013.

[14] Verheyen D., What’s in a Name? Street Name Politics and Urban Identity in Berlin, German Politics & Society, 15(3 (44)), 44-72, JSTOR, 1997.

[15] Vuolteenaho J. & Ainiala T., Planning and revamping urban toponymy: Ideological alterations in the linguistic landscaping of Vuosaari suburb, eastern Helsinki, Critical Toponymies: The Contested Politics of Place Naming, 227-252, 2009.

[16] Yeoh B.S.A., Street Names in Colonial Singapore, Geographical Review, 82(3), 313-322. https://doi.org/10.2307/215354, 1992.

[17] André B., Guide Historique des rues de Saigon, S.I.L.I, 1943.

PHÙNG THỊ THANH LÂM * - PHẠM THỊ THƯƠNG THƯƠNG