TỪ ĐIỂN CÁC NGHỀ, LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Ở QUẢNG NAM TRONG HỆ THỐNG PHÂN LOẠI TỪ ĐIỂN

19/11/2021

Tóm tắt: Bài viết trình bày về việc xác định vị trí của Từ điển các nghề, làng nghề truyền thống ở Quảng Nam trong hệ thống phân loại từ điển. Để có cơ sở xác định, bài viết đã trình bày một số vấn đề. Phần thứ nhất trình bày sơ lược đặc điểm các loại công trình tra cứu như từ điển ngôn ngữ, từ điển bách khoa, bách khoa thư. Phần thứ hai khảo lược một số công trình tra cứu có liên quan đến nghề, làng nghề truyền thống ở Quảng Nam. Từ đó, Từ điển các nghề, làng nghề truyền thống ở Quảng Nam được xác định thuộc loại từ điển bách khoa địa phương chuyên ngành.

Từ khóa: Hệ thống phân loại từ điển, từ điển bách khoa, từ điển bách khoa địa phương chuyên ngành, nghề truyền thống, làng nghề truyền thống, Quảng Nam.

Abstract: The article presents the way to identify the position of the Dictionary of Traditional Crafts, Craft Villages in Quang Nam in the system of dictionary classification. Theoretically, the dictionaries are classified into specialized ones such as linguistic dictionaries, encyclopedic dictionaries, encyclopedias, etc. Based on some relevant researches and studies on the traditional crafts and craft villages in Quang Nam, the Dictionary of Traditional Crafts, Craft Villages in Quang Nam is supposed to be a type of the specialized local encyclopedic dictionary.

Keywords: System of dictionary classification, encyclopedic dictionary, specialized local encyclopedic dictionary, traditional crafts, traditional craft villages, Quảng Nam.

Mở đầu

Các công trình nghiên cứu có đề cập đến nghề và làng nghề thủ công đã được công bố khá phong phú, có thể thấy điều này qua bộ Tổng tập nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam [9]. Tuy nhiên, các công trình tra cứu về lĩnh vực này dường như còn rất khiêm tốn. Nghề, làng nghề truyền thống thường được giới thiệu xen vào trong các công trình mang tính bách khoa về lĩnh vực văn hóa. Để phục vụ cho việc biên soạn Từ điển các nghề, làng nghề truyền thống ở Quảng Nam (Đề tài do Hội Ngôn ngữ học Việt Nam đang thực hiện, Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Nam chủ trì), việc xác định một cách rõ ràng loại hình của công trình tra cứu này là vô cùng quan trọng. Đó chính là cơ sở để xác định cấu trúc vĩ mô và vi mô, góp phần giúp người biên soạn có ý thức khu biệt nó với các loại công trình tra cứu khác.

1. Hệ thống phân loại các công trình tra cứu mang tính từ điển

Về loại hình học từ điển, các nhà nghiên cứu đã tốn không ít giấy mực, có thể kể đến các công trình của Zgusta (1971), Hà Học Trạc (2004), Nguyễn Văn Lợi (2013),... Tuy nhiên, nhìn chung lại, có thể thấy các công trình tra cứu mang tính từ điển khu biệt với các công trình tra cứu khác như danh bạ, niên giám,... Các loại công trình tra cứu mang tính từ điển thường được chia thành hai loại theo đối tượng biên soạn của mình. Những công trình nhằm cung cấp thông tin về mặt ngôn ngữ của đơn vị đầu mục từ, đó là từ điển ngôn ngữ. Những công trình nhằm cung cấp tri thức về thế giới, đó là những công trình bách khoa, gồm từ điển bách khoa và bách khoa thư. Hai loại này khác biệt nhau đôi chút về đơn vị đầu mục và dung lượng thông tin của mỗi mục.

1.1. Từ điển ngôn ngữ

Từ điển ngôn ngữ có thể là từ điển đơn ngữ hoặc song/đa ngữ. Chúng có một điểm chung là các đơn vị đầu mục từ là những đơn vị ngôn ngữ trong vốn từ vựng chung. Từ điển song/đa ngữ là từ điển có nhiều thứ tiếng, sử dụng một/nhiều ngôn ngữ khác làm phần tương đương cho đơn vị đầu mục. Từ điển đơn ngữ là từ điển sử dụng ngôn ngữ của chính những đơn vị đầu mục để nói về những đơn vị đầu mục đó. Đó là các từ điển giải thích, từ điển chính tả, từ điển từ đồng âm, đồng nghĩa, trái nghĩa,... Trong đó, từ điển giải thích hay từ điển tường giải là loại từ điển cung cấp thông tin về ngữ nghĩa của đơn vị đầu mục. Tùy thuộc tính chất của các đơn vị đầu mục mà loại từ điển này có những tên gọi khác nhau. Nếu bảng từ của từ điển bao trùm hầu như toàn bộ vốn từ vựng, nó được gọi là từ điển phổ thông. Nếu bảng từ là một nhóm, một lớp từ ngữ trong vốn từ vựng của một ngôn ngữ, nó sẽ được gọi tên theo lớp từ đó. Ví dụ, từ điển thành ngữ, từ điển từ láy, từ điển từ tượng thanh, tượng hình, từ điển từ cổ, từ điển phương ngữ, từ điển từ ngữ nghề nghiệp,... Các từ điển thuật ngữ, về bản chất, cũng là một loại từ điển ngôn ngữ, vì lớp thuật ngữ cũng là một thành phần của vốn từ vựng chung. Tuy nhiên, trong thực tế, từ điển thuật ngữ thường được tách ra thành một loại từ điển riêng, vì đối tượng giải thích được nhắm đến của chúng là những khái niệm, chứ không phải là tín hiệu ngôn ngữ. Trong các từ điển phổ thông, các thuật ngữ cũng được thu thập và xử lý, nhưng đó chỉ là những thuật ngữ phổ biến và độ sâu về chuyên môn chỉ đủ để người dùng phổ thông hiểu được. Trong khi đó, trong các từ điển thuật ngữ, người ta thu thập các thuật ngữ ở những bậc sâu hơn (bậc hai, bậc ba,...) và cung cấp những tri thức chuyên môn sâu, đáp ứng nhu cầu học tập và tra cứu của những người có chuyên môn.

1.2. Các công trình bách khoa

Các công trình bách khoa gồm bách khoa thư và từ điển bách khoa. Bách khoa thư là một loại công trình tra cứu mà các đơn vị đầu mục là các thuật ngữ và các tên riêng chỉ sự vật, hiện tượng, tổ chức, sự kiện, nhân danh, địa danh,... Những đơn vị đầu mục này có thể là từ, nhưng thường là ngữ. Chúng thường mang tính khái quát cao, bao trùm một lượng tri thức lớn thuộc một ngành, một lĩnh vực, một địa phương,... Nội dung các mục từ không chỉ cung cấp các thông tin về mặt ngôn ngữ của các đơn vị đó, mà còn dành phần lớn để cung cấp thông tin ngoài ngôn ngữ, tức các thông tin về thế giới mà đơn vị đầu mục phản ánh. Về mặt loại hình, bách khoa thư thường được chia thành ba loại: bách khoa thư tổng hợp, bách khoa thư chuyên ngành, bách khoa thư địa phương. Bách khoa thư tổng hợp như bách khoa thư dành cho các lứa tuổi, bách khoa thư của một quốc gia,... Bách khoa thư chuyên ngành cung cấp tri thức mọi mặt về một ngành nhất định, có thể kể đến các loại như Bách khoa thư Ngôn ngữ học, Bách khoa thư Văn học, Bách khoa thư Công an nhân dân,... Bách khoa thư địa phương, về bản chất cũng là bách khoa thư tổng hợp, nhưng phạm vi đề cập đến chỉ về một địa phương, nên ở loại bách khoa thư này, tính địa phương nổi trội, có thể kể đến Bách khoa thư Hà Nội,...

Từ điển bách khoa thường được coi là một loại công trình tra cứu mang tính từ điển lai giữa từ điển ngôn ngữ và bách khoa thư. Về cấu trúc bảng mục từ, nó thu thập các đơn vị từ, ngữ, cụm từ, trong đó bao gồm cả tên riêng, không bao gồm các hư từ. Tuy nhiên, các đơn vị đầu mục này thường mang tính khái quát không cao như các đơn vị đầu mục trong bách khoa thư. Do đó, nội dung thông tin trong cấu trúc vi mô cũng không bao quát, không lớn như trong bách khoa thư. Sự khác nhau này có thể lấy ví dụ: nếu như đơn vị đầu mục trong Bách khoa thư Ngôn ngữ học là Từ vựng học, trong đó đưa các thông tin về lịch sử môn từ vựng học, các nhà nghiên cứu từ vựng học, các cuốn sách về từ vựng học, các tư tưởng, quan điểm, trường phái nghiên cứu từ vựng học,... thì trong Từ điển bách khoa Ngôn ngữ học, các mục từ sẽ là những đơn vị thuộc bậc dưới của Từ vựng học. Mục từ Từ vựng học cũng sẽ xuất hiện nhưng được biên soạn một cách khái quát, ngắn gọn, cơ bản. Bên cạnh đó, chẳng hạn, tên những nhà Từ vựng học lớn sẽ được đứng làm một mục từ riêng, được cung cấp ngắn gọn các thông tin về tiểu sử, sự nghiệp,... Các thuật ngữ thuộc về phân ngành Từ vựng học cũng được đứng làm đầu mục từ.  Như vậy, so với bách khoa thư, số lượng mục từ trong từ điển bách khoa sẽ nhiều hơn, nhưng dung lượng mỗi mục từ lại nhỏ hơn, độ khái quát thấp hơn. Từ điển bách khoa cũng chia thành từ điển bách khoa tổng hợp, từ điển bách khoa địa phương, từ điển bách khoa chuyên ngành.

Vậy thì Từ điển nghề, làng nghề truyền thống ở Quảng Nam sẽ thuộc loại nào trong các loại trên? Để xác định điều này, chúng ta cần tìm hiểu xem các công trình đi trước về lĩnh vực này đã được thực hiện theo cách nào và chúng thuộc những loại hình nào?

2. Nghề, làng nghề truyền thống ở Quảng Nam trong các công trình tra cứu

2.1. Nghề, làng nghề truyền thống ở Quảng Nam trong các công trình tra cứu

Qua tìm hiểu, chúng tôi chưa thấy một công trình nào trình bày về nghề, làng nghề Quảng Nam như một công trình tra cứu trong phạm vi tỉnh Quảng Nam. Nghề, làng nghề truyền thống Quảng Nam chỉ được xuất hiện trong một số công trình tra cứu có phạm vi toàn quốc, như: Từ điển bách khoa Việt Nam, Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam, Từ điển phổ thông ngành nghề truyền thống Việt Nam, Nghề cổ nước Việt,...

Từ điển bách khoa Việt Nam (TĐBKVN) là một “bộ từ điển bách khoa tổng hợp nhiều chuyên ngành, cỡ trung bình, có tính chất thông dụng, dùng cho đông đảo bạn đọc, chủ yếu cho những người có trình độ trung học trở lên. Từ điển có mục đích giới thiệu những tri thức cơ bản về văn hóa, khoa học, kỹ thuật, lịch sử, đất nước, xã hội, con người Việt Nam xưa và nay; giới thiệu những tri thức văn hóa, khoa học, kỹ thuật của thế giới, chú ý những tri thức cần cho độc giả Việt Nam” [7; Lời nói đầu]. Trong TĐBKVN, có 16 mục từ về các nghề: nghề cá, nghề chạm khắc đá Việt Nam, nghề chạm khắc gỗ Việt Nam, nghề dệt Việt Nam, nghề đồng dát tam khí Việt Nam, nghề đúc đồng Việt Nam, nghề gốm Việt Nam, nghề in ở Việt Nam, nghề khảm xà cừ Việt Nam, nghề kim hoàn Việt Nam, nghề làm tranh dân gian Việt Nam, nghề làm vàng quỳ Việt Nam, nghề mộc, nghề nặn tượng đất nung dân gian Việt Nam, nghề rèn, nghề thêu Việt Nam. Nội dung thông tin của các mục từ gồm phần định nghĩa, lịch sử phát triển nghề, kỹ thuật, sản phẩm, các địa điểm có nghề. Trong số đó, chỉ có ba nghề ở Quảng Nam được nhắc đến theo kiểu liệt kê một cách sơ lược là: nghề chạm khắc gỗ Việt Nam (“Quảng Nam (như Kim Bồng)”), nghề dệt Việt Nam (“Quảng Nam có vải lụa Thăng Hoa, Điện Bàn”), nghề mộc (“Kim Bồng (tỉnh Quảng Nam)”).

Từ điển văn hoá cổ truyền Việt Nam (2002) là một cuốn sách giới thiệu văn hóa cổ truyền Việt Nam. Ở Chương II. Con người trưởng thành, B.IV. Lao động - Nghề nghiệp, có mục 4/ Các nghề, làng nghề thủ công. Trong phần này, sách giới thiệu 46 nghề, làng nghề thủ công, tuy nhiên, không một nghề nào ở Quảng Nam được nhắc đến.

Từ điển phổ thông ngành nghề truyền thống Việt Nam (2000) được xác định là “một loại sách công cụ giúp học sinh tra cứu để nắm vững, làm phong phú những kiến thức cơ bản được học (về các ngành nghề, làng nghề, tổ sư, nghệ nhân, công cụ sản xuất, sản phẩm,...)”. Có thể nói, đây là cuốn sách duy nhất mang tính chất một công trình tra cứu chuyên về nghề truyền thống.

Trong sách này, một số nghề, làng nghề ở Quảng Nam được nhắc đến, nhưng ở những chừng mực khác nhau. Trong số các nghề, chỉ có nghề dệt, nghề đúc đồng, nghề rèn được đề cập đến một cách thoáng qua như sau:

nghề dệt: “Còn ở Quảng Nam, “người Thăng Hoa, Điện Bàn biết dệt vải lụa, vóc, đoạn, lĩnh, là hoa màu khéo đẹp chẳng kém Quảng Đông”. Thuận Hóa còn có thợ dệt gấm, dệt nhiễu đỏ, lĩnh trạng. Dinh Quảng Nam có thợ dệt lĩnh bóng”” [1; tr.184].

nghề đúc đồng: “Vào cuối thế kỷ XVI - XVII, kỹ thuật đúc đồng còn truyền vào Thuận Hóa, Phú Xuân và Quảng Nam, hình thành nên các phường đúc Huế, Phước Kiều, Cù Lao Phố,..., làng Chu Thượng (Quảng Ngãi)” [1; tr.189].

nghề rèn: “Đến thế kỷ XVI - XVII, thợ rèn Nho Lâm còn theo chúa Nguyễn vào Quảng Nam lập nên phường rèn Tam Thái (Tam Kỳ, Quảng Nam)” [1; tr.211].

Trong số các làng nghề, có ba làng nghề ở Quảng Nam được viết với tư cách là những mục từ riêng. Đó là các làng: Kim Bồng, Phước Kiều, Thanh Hà.

Nghề cổ nước Việt (2001) viết về 21 nghề:

21 nghề này được viết thành 21 bài, mỗi bài gồm các thông tin về địa lý làng nghề, tổ nghề, thời điểm xuất phát, nghi lễ tín ngưỡng cho làng nghề, sự truyền nghề và những đặc điểm kỹ thuật và sản phẩm của nghề. Đó là những nghề trên khắp đất nước Việt Nam. Tuy nhiên, trong toàn bộ 21 bài viết này, chỉ bài viết về Nghề thợ mộc có một đoạn nhắc đến làng mộc Kim Bồng ở Quảng Nam và cũng chỉ chủ yếu nói về sản phẩm tủ thờ:

“Ở Quảng Nam - Đà Nẵng có làng mộc Kim Bồng cũng rất nổi tiếng. Theo người dân ở đây kể lại, thì nghề mộc Kim Bồng có từ trước thời khởi nghĩa Tây Sơn. Kim Bồng gần khu phố cổ Hội An, việc giao lưu hàng hóa với Đàng Trong và Đàng Ngoài đã có từ xa xưa. Vì vậy, mẫu mã đồ gỗ Kim Bồng cũng rất đa dạng.

Từ những bộ cửa bức bàn bốn cánh, ván huỳnh được đục chạm tứ quý (thông, mai, cúc, trúc), hoặc mai-điểu, trúc-tước rất tinh xảo; tới các bộ cuốn thư, hoành phi, nghi môn, thiều châu với hình tượng tứ linh (rồng hút nước) được đục kênh bong và sống động treo trên các vì kèo, xà đình, xà chùa tăng vẻ uy nghiêm, lộng lẫy. Người thợ Kim Bồng có đặc tài làm tủ thờ. Mẫu tủ thờ của Kim Bồng khác tủ thờ ngoài Huế, ngoài Bắc Ninh. Đại đa tủ thờ Kim Bồng làm theo dáng 3 buồng, 3 cánh. Mỗi cánh lại soi huỳnh từng khoang và đục chạm kỹ càng, có khi còn cẩn ốc, cẩn trai cho tăng phần lộng lẫy. Tủ thờ Kim Bồng thường làm bằng gỗ gụ (gỗ gõ), gỗ hương. Nếu loại quý hơn, làm bằng gỗ cẩm. Gỗ cẩm trong miền Trung và miền Nam coi quý hơn gỗ trắc. Tủ thờ gỗ cẩm của Hội An, đục và cẩn ốc đẹp, có giá tới ba, bốn cây vàng. Người dân xứ Quảng nếu xây cất nhà cửa xong, việc đi sắm đồ bầy biện trong nhà, đầu tiên là sắm tủ thờ. Vì thế, thợ mộc Kim Bồng làm ngày làm đêm không xuể công việc” [5; tr.333].

Có thể thấy, các thông tin về nghề, làng nghề truyền thống ở Quảng Nam chưa có được một vị trí xứng đáng trong các công trình tra cứu. Do đó, việc thực hiện công trình Từ điển các nghề, làng nghề truyền thống ở Quảng Nam là một nhu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng sự tìm hiểu của du khách lẫn của người dân địa phương. Và điều quan trọng cần phải làm là xác định xem công trình này sẽ nằm tại vị trí nào trong hệ thống các công trình tra cứu thì phù hợp nhất?

3. Vị trí của Từ điển các nghề, làng nghề truyền thống ở Quảng Nam trong hệ thống phân loại từ điển

Qua việc khảo sát các công trình nghiên cứu và tra cứu có liên quan đến nghề thủ công trên cả nước và ở Quảng Nam, chúng ta thấy rằng:

- Các công trình nghiên cứu về nghề thủ công trên cả nước và ở Quảng Nam khá phong phú.

- Về các công trình tra cứu, có thể thấy đã có một số công trình tra cứu ở phạm vi toàn quốc. Trong đó, có một số mục từ cung cấp thông tin về nghề thủ công, trong đó có một số nghề thủ công ở Quảng Nam. Một điều đáng mừng là cũng đã có một vài công trình tra cứu chuyên về nghề thủ công. Các công trình này đều có phạm vi trên cả nước. Trong đó, con số các mục từ liên quan đến nghề, làng nghề ở Quảng Nam rất ít.

Mặc dù vậy, những công trình tra cứu trên đã giúp chúng ta có thể hình dung ra những công việc cần phải làm để xác định loại hình của Từ điển các nghề, làng nghề truyền thống ở Quảng Nam.

3.1. Trước hết, đó phải là một công trình tra cứu. Với tư cách là một công trình tra cứu, Từ điển các nghề, làng nghề truyền thống ở Quảng Nam cần có một số đặc điểm đặc trưng:

- Tính hệ thống: theo các nhóm, các trường từ vựng-ngữ nghĩa cấu thành nên nghề truyền thống.

- Tính khách quan: không áp dụng cách viết mang tính báo chí hay văn học như trong một số công trình đã đề cập đến ở trên.

- Tính phổ thông: từ điển dành cho đối tượng sử dụng là các du khách, nhân dân địa phương là chủ yếu nên cần mang tính phổ thông, dễ đọc, dễ sử dụng.

3.2. Thứ hai, có thể xác định Từ điển các nghề, làng nghề truyền thống ở Quảng Nam thuộc loại hình từ điển bách khoa địa phương chuyên ngành, trong sự khu biệt với loại hình từ điển bách khoa địa phương tổng hợp.

- Trước hết Từ điển các nghề, làng nghề truyền thống ở Quảng Nam là từ điển bách khoa vì: (1) Bảng từ gồm tên các nghề, làng nghề; tên các tổ nghề; tên các nguyên liệu; tên các công cụ; tên các hoạt động làm nghề; tên các sản phẩm; (2) Nội dung thông tin: gồm phần định nghĩa về mặt ngôn ngữ, phần cung cấp tri thức bách khoa. Vì chủ yếu bảng từ của từ điển là tên gọi của những sự vật, đồ vật cụ thể, nên nội dung không quá khái quát, không thể đạt mức lớn như một mục từ của bách khoa thư.

- Thứ hai, Từ điển các nghề, làng nghề truyền thống ở Quảng Nam là từ một loại điển bách khoa địa phương. Phạm vi tri thức phản ánh của từ điển này nằm trong địa bàn tỉnh Quảng Nam. Do đó, tên các đầu mục, nội dung thông tin ngôn ngữ, tri thức cần phản ánh được những nét đặc thù của địa phương, tạo nên đặc trưng riêng của cuốn từ điển này, khu biệt với các cuốn từ điển về cùng đối tượng nghề, làng nghề của những tỉnh khác (nếu có).

- Thứ ba, Từ điển các nghề, làng nghề truyền thống ở Quảng Nam là từ điển bách khoa chuyên ngành. Nghề, làng nghề truyền thống về bản chất là một lĩnh vực thuộc ngành kinh tế. Tuy nhiên, vì giá trị bảo tồn truyền thống nên nó được ngành văn hóa quan tâm. Cho đến thời điểm hiện tại, có những nghề chỉ còn tồn tại nhờ sự hỗ trợ để gìn giữ các giá trị văn hóa của cha ông, giá trị kinh tế của chúng đã khá suy giảm. Sự kết hợp giữa hai ngành như vậy đã tạo nên tính liên ngành trong các mục từ. Các thông tin cung cấp trong các mục từ cần làm sao thể hiện rõ tính liên ngành của các đơn vị đầu mục trong từ điển này.

Việc xác định một cách rõ ràng loại hình và những đặc tính của Từ điển các nghề, làng nghề truyền thống ở Quảng Nam như trên giống như một chiếc kim chỉ nam, góp phần làm cho những người biên soạn có ý thức rõ hơn trong việc lựa chọn bảng mục từ và cung cấp các thông tin trong nội dung các mục từ một cách chính xác, nhắm đúng đối tượng và phạm vi của công trình.

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Phan Ngọc Liên (Chủ biên), Từ điển phổ thông ngành nghề truyền thống Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2000.

[2] Nguyễn Văn Lợi, Từ điển học và Bách khoa thư học (phạm vi, đối tượng và quan hệ), Từ điển học và Bách khoa thư, số 3 (23), 2013.

[3] Hữu Ngọc (Chủ biên), Từ điển văn hoá cổ truyền Việt Nam, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2002.

[4] Hà Học Trạc, Lịch sử, lý luận và thực tiễn biên soạn bách khoa toàn thư. Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2004.

[5] Vũ Từ Trang, Nghề cổ nước Việt, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2001.

[6] Zgusta L., Giáo trình Từ điển học, Nxb. Viện Hàn lâm khoa học Tiệp Khắc, Praha. (Bản dịch tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học), 1971.

[7] Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo Biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam, Từ điển Bách khoa Việt Nam (4 tập), Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, 1995 - 2005.

[8] Hội Văn nghệ dân gian thành phố Đà Nẵng, Nghề và làng nghề truyền thống đất Quảng, Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2009.

[9] Viện Nghiên cứu Văn hóa, Tổng tập nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2012.

HOÀNG THỊ NHUNG