Lược sử Bách khoa toàn thư ở các nước

02/07/2013

 

 NGUYỄN TRUNG THUẦN

 

1. Khởi nguồn của bách khoa toàn thư

Có 2 địa điểm phát tích các tác phẩm thuộc dạng bách khoa toàn thư sớm nhất. Một là Trung Quốc, hai là Hi Lạp và La Mã cổ đại. Các tác phẩm mang tính bách khoa toàn thư, kể cả ở phương Tây và ở Trung Quốc, đều đã có một lịch sử hơn 2.000 năm. Song, sự phát triển của bách khoa toàn thư cổ đại ở phương Đông và phương Tây cũng giống như nền văn minh cổ đại ở phương Đông và phương Tây, không hề có sự dung hợp trong suốt cả một thời kì lịch sử dài lâu, mà có những truyền thống tự hình thành khác nhau.

Khởi thuỷ của bách khoa toàn thư được bắt đầu từ ý tưởng tập hợp mọi kiến thức của thế giới vào trong tầm tay có từ thời Thư viện Alexandria, Pergamon cổ đại và Trung Quốc cổ đại. Ý tưởng ấy thường dựa trên 2 nền tảng: Một, ghi chép khái quát lại tất cả mọi kiến thức mà loài người đã có; Hai, tiến hành chỉnh lí và phân loại những tri thức đã có. Cho dù sự phân loại tri thức ở buổi ban đầu có non nớt ra sao đi nữa, thì rút cục cũng vẫn là một loại chỉnh lí tri thức. Hai nền tảng này chính là điều kiện tối thiểu cần có để biên soạn tất cả mọi bộ bách khoa toàn thư về sau này, kể cả các bộ bách khoa toàn thư hiện đại. Đây cũng chính là những điểm khác nhau về khởi nguồn của bách khoa toàn thư và từ điển. Còn việc bách khoa toàn thư với từ điển đã “kết duyên” và thẩm thấu vào nhau ra sao thì là chuyện xuất hiện sau này.

Ở phương Tây, nhiều tác giả thời cổ đại đã cố gắng tập hợp lại toàn bộ kiến thức của nhân loại. Nhà học giả Aristote (384-322 TCN) đã từng biên soạn diễn giải một cách toàn diện các khái niệm “công cụ luận”, “vật lí học”, “hình học”, “luân lí học”... trong nền học vấn đương thời để phục vụ cho công việc giảng dạy ở Aten. Là người tiến hành sự phân loại khoa học đầu tiên, ông phân chia khoa học thành khoa học lí thuyết (toán học, khoa học tự nhiên), khoa học thực hành (luân lí học, chính trị học, kinh tế học, chiến lược học, tu từ học) và khoa học sáng tạo (khoa học nghệ thuật), đồng thời coi logic học là công cụ của tất cả các khoa học. Ông được tôn xưng là “cha đẻ của bách khoa toàn thư”. Một người khác nữa cũng được Phương Tây coi là “cha đẻ của bách khoa toàn thư”, đó là Speusippus (mất 339-338 TCN) qua những tác phẩm còn lưu lại rời rạc. Cả hai vị trên đều là đệ tử của Platon (427-347 TCN). Chính vì thế mà lại có ý kiến cho rằng Platon mới là ông tổ của bách khoa toàn thư.

Mặc dù cũng có những công trình bách khoa thư ra đời sớm hơn, như bộ Disciplinarium libri IX ra đời trước đó 1 thế kỉ của nhà bác học, nhà văn La Mã Marcus Terentius Varro (116 - 27 TCN), nhưng một trong những công trình bách khoa thư cổ nhất còn sống sót được đến thời Trung cổ, rồi đến thời hiện đại, là bộ Naturalis Historia của Pliny Già (Pliny the Elder), nhà hùng biện La Mã sống ở thế kỉ 1. Bộ sách gồm 37 chương về lịch sử tự nhiên, nghệ thuật và kiến trúc, y học, địa lí, địa chất cùng tất cả mọi mặt của thế giới quanh ông. Trong lời nói đầu, ông cho biết đã biên soạn 20.000 sự kiện (fact) dựa trên 2.000 công trình khác nhau của 200 tác giả. Cách làm của ông là lựa chọn các sự kiện bằng việc đọc và đối chiếu với các công trình của các tác giả khác nhau, đồng thời có phần chỉ dẫn tham khảo (reference) theo tên của họ. Nhờ đó mà rất nhiều công trình bị thất lạc đã được “ghi nhớ” trong phần chỉ dẫn tham khảo của ông, như của Marcus Terentius Varro chẳng hạn. Chỉ đáng tiếc là ông đã không bao giờ được nhìn thấy bản in cuối cùng (bộ sách được xuất bản năm 80) vì cái chết bất ngờ của mình trong vụ núi lửa Vesuvio phun trào vào năm 79.

Ở phương Đông, người khởi xướng biên soạn tác phẩm mang tính bách khoa toàn thư đầu tiên là Nguỵ Văn Đế Tào Phi (187-226) của Trung Quốc. Ông ra lệnh cho Vương Tượng và những người khác biên soạn biên soạn bộ loại thư đầu tiên Hoàng Lãm, được Đường thư . Nghệ văn chí nhận định là khởi thuỷ của loại thư Trung Quốc. Nhưng theo các nhà bách khoa thư học Trung Quốc, các sách mang tính bách khoa toàn thư thời đó không chỉ là loại thư, mà còn phải kể đến cả từ thư. Bộ Nhĩ nhã thành sách vào khoảng đời Hán (tương truyền từ thời Tây Chu), tuy được coi là bộ từ thư sớm nhất, nhưng do nó đã thu thập rộng rãi cả các danh từ nên lại càng giống hơn với một bộ từ điển thời cổ. Không nên xem nó là một bộ từ điển ngôn ngữ thông thường (ngoài 3 thiên “thích hỗ”, “thích ngôn” và “thích huấn”, 16 thiên còn lại đều giải thích các danh từ về sự vật và tên gọi), mà phải xem nó là một bộ từ điển bách khoa khởi thuỷ, cho nên cũng có thể cho đó là khởi nguồn đầu tiên của loại sách mang tính bách khoa toàn thư ở Trung Quốc.

Tương truyền, ở Ai Cập từng xuất hiện một bộ “từ điển” mang tính thuật ngữ ở thời kì còn sớm hơn, nhưng sự việc này rất khó khảo chứng. Phải đến thế kỉ 9, ở Ai Cập mới xuất hiện một cuốn sách mang tính bách khoa toàn thư thực sự, đó là tác phẩm Kitab ‘Uyun al-Akhbar của Ibn Qutaybah (828-889). Nội dung và cách sắp xếp trong đó là mẫu hình cho nhiều bộ bách khoa toàn thư sau này.

Nhật Bản chịu ảnh hưởng của loại thư Trung Quốc từ rất sớm. Bộ sách được coi là khởi thuỷ của bách khoa toàn thư của Nhật Bản là bộ Hifuryaku gồm 1.000 cuộn, do Nhật Hoàng ra lệnh cho Shigeno no Sadanushi cùng những người khác biên soạn vào năm 831, hiện chỉ còn lại những đoạn rời rạc. Bộ Wamyo ruijsho gồm 10 cuộn là bộ bách khoa toàn thư thực sự mang phong cách Nhật Bản đầu tiên ra đời năm 938. Nhà học giả thời Heian là Minamoto no Shitago (911-938) bắt đầu biên soạn năm 934 theo lệnh của Nhật hoàng.

2. Thời kì Trung cổ

Saint Isidor of Seville (560 – 636), một trong những nhà học giả nổi tiếng thời tiền Trung cổ, tác giả của bộ bách khoa toàn thư nổi tiếng đầu tiên thời đó là bộ Etymologiae (khoảng năm 630). Bộ sách gồm 448 chương, 20 tập, được xem là có giá trị bởi đã trích dẫn những tác giả khác lẽ ra là đã bị lãng quên nếu như không được thu thập ở đây.

Bộ bách khoa toàn thư được đọc và trích dẫn phổ biến nhất thời Tiền Trung cổ là De proprietatibus rerum (năm 1240) của Bartholomeus Anglicus (1203-1272); còn bộ bách khoa toàn thư nhiều tham vọng nhất ở thời Hậu Trung cổ là bộ Speculum Majus (năm 1260) của Vincent of Beauvais (1190 – 1264?) với hơn 3 triệu từ.

Ở A Rập và Ba Tư, các kiến thức Hồi giáo thời kì cổ đại đã được biên soạn lại trong nhiều công trình tổng hợp ở thời Trung cổ, những thứ ngày nay chúng ta gọi là phương pháp khoa học, phương pháp lịch sử và trích dẫn rất phát triển vào thời kì đó. Những công trình đáng kể bao gồm bộ bách khoa thư khoa học của Abu Bakr al-Razi (865-925); 270 quyển rất phong phú về nội dung của Al-Kindi (801-73) và bộ bách khoa thư y học của Ibn Sina (980-1037) là một công trình tham khảo có giá trị trong nhiều thế kỷ. Cũng phải kể tới các công trình về lịch sử thế giới như bộ History of the Prophets and Kings của Asharites, al-Masudi, Tabari và bộ Muqadimmah của Ibn Rustah, al-Athir và Ibn Khaldun.

Ở Trung Quốc, Tống tứ đại thư do Lí Phưởng (925-996) biên soạn vào đời Tống là một kho tàng văn học đồ sộ. Các nhà bách khoa toàn thư nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc có Thẩm Quát (1031-1095) với bộ Thẩm khê bút đàm (năm 1088), Vương Chân (1290-1333) với bộ Nông thư (năm 1313) và Tống Ưng Tinh (1587-1666) với bộ Thiên công khai vật – người được nhà sử học Anh Joseph Needham mệnh danh là “Điđơrô của Trung Quốc”. Hoàng đế Trung Quốc Thành Tổ nhà Minh đã trực tiếp trông coi việc biên soạn bộ Vĩnh Lạc đại điển, một trong những bộ bách khoa toàn thư lớn nhất trong lịch sử, được hoàn thành vào năm 1408, gồm hơn 11.000 tập chép tay, chỉ có 400 tập trong số đó còn tồn tại đến ngày nay. Tứ khố toàn thư là bộ sách có qui mô lớn nhất (đứng thứ hai là Vĩnh lạc đại điển) trong lịch sử Trung Quốc, đồng thời có lẽ là công trình sưu tập lớn nhất trên thế giới. Vua Càn Long đời Thanh bắt đầu biên soạn năm 1773, 9 năm sau thì thành sách. Thu thập tổng cộng 3503 loại sách với 79337 quyển, 2, 3 triệu trang. Sưu tập tất cả những bộ cổ tịch trọng yếu lớn, bao quát gần như tất cả những lịch vực học thuật vốn có của Trung Quốc cổ đại - suốt từ thời Tiên Tần đến trước đời Càn Long. Bộ Tứ khố toàn thư có thể sánh với bách khoa toàn thư kiểu phương Tây.

3. Thế kỉ 17-19

Ý tưởng hiện đại về việc xây dựng các bộ bách khoa thư dưới dạng in, đa dụng và phân phối rộng rãi đã bắt đầu xuất hiện từ trước thế kỉ 18. Song, các bộ Cyclopaedia, or Universal Dictionary of Arts and Sciences (năm 1728), Encyclopédie của Diderot và D’Alember (năm 1751), Encyclopaedia Britannica Conversations-Lexikon mới là những bộ đầu tiên có hình thức mà chúng ta thừa nhận hiện nay, với các chủ đề thuộc các lĩnh vực tổng hợp, bình luận sâu hơn và được sắp xếp theo phương pháp hệ thống, dễ tra cứu.

Nhiều bộ bách khoa toàn thư thời kì Phục hưng Pháp dựa trên quan điểm không đưa vào tất cả mọi sự kiện nổi tiếng, mà chỉ đưa vào những kiến thức cần thiết, tính cần thiết được xét đoán bởi nhiều phạm trù với độ rộng khác nhau, dẫn đến những công trình với các kích cỡ khác nhau. Các nhà bách khoa thư học phải đối mặt với nhiều vấn đề như làm sao để quyết định bỏ đi những thứ không cần thiết, để cấu trúc hoá các kiến thức, và ứng phó ra sao trước sự tràn ngập những kiến thức và sự kiện mới được khám phá.

 Từ “encyclopaedia” bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp cổ là “ἐγκύκλιος παιδεία”, được chuyển ngữ thành “enkyklios paidea”, “enkyklios” có nghĩa là “tuần hoàn, theo chu trình”, còn “paidea” có nghĩa là “giáo dục”. Đồng thời, nó còn được dịch theo văn phong sách vở là “giáo dục theo chu trình”, nghĩa là “kiến thức chung”. Những người chép lại vào các bản chép tay bằng tiếng Latin đã chuyển cụm từ trên thành một từ Hi Lạp đơn là “enkuklopaedia” với cùng nghĩa, và rồi từ Hi Lạp giả mạo ấy đã trở thành từ Latin mới là “encyclopaedia”, chính là từ đi vào tiếng Anh sau đó.

Nhà vật lí và nhà triết học Anh là Thomas Browne (1605-82) đã sử dụng từ “encyclopaedia” ngay từ năm 1646 trong lời nói đầu bộ Pseudodoxia Epidemica hay Vulgar Errors của mình. Browne đã cấu trúc bách khoa thư của mình dựa trên lược đồ có tiếng một thời của thời kỳ Phục hưng, lược đồ này gọi nôm na là “nấc sáng tạo” tức là theo như kiểu leo bậc thang từ thế giới khoáng vật đến thế giới thực vật, động vật, loài người, hành tinh và thế giới vũ trụ. Công trình này đã xuất hiện trên giá sách của nhiều độc giả Châu Âu có học suốt cả cuối thế kỉ 17, đồng thời được dịch ra nhiều thứ tiếng như Pháp, Đức, Latin... vào đầu thế kỉ 18.

John Harris (1666-1719) thường được nhắc đến bởi lời giới thiệu cho bản in năm 1704 bộ sách Lexicon Technicum, được sắp xếp theo thứ tự chữ cái như ngày nay, của mình bằng tiếng Anh: “Or, A Universal English Dictionary of Arts and Sciences: Explaining not only the Term of Art, but the Arts Themselves” (tạm dịch: Tức là một cuốn từ điển bằng tiếng Anh phổ quát về nghệ thuật và khoa học: Không chỉ giải thích từ nghệ thuật, mà cả bản thân nghệ thuật nữa). Isaac Newton cũng đóng góp công trình về hoá học được in một lần duy nhất của mình vào tập 2 bản in năm 1710 của bộ này. Với 1.200 trang in, quy mô của bộ sách được phần đông cho rằng nên xem đó là một bộ từ điển bách khoa, chứ không phải là một bộ bách khoa toàn thư thực thụ.. Bản thân Harris cũng cho đó là một bộ từ điển. Công trình này là một trong những bộ từ điển về kĩ thuật đầu tiên trong các thứ tiếng.

Ephraim Chambers (1680-1740), nhà văn và nhà bách khoa thư học người Anh, cho xuất bản bộ Cyclopedia của mình vào năm 1728. Một số lượng lớn các chủ đề được sắp xếp theo thứ tự chữ cái, dựa vào sự hợp tác của nhiều cộng tác viên khác nhau và có thêm phần tham chiếu chéo các phần trong từng mục từ. Chambers được suy tôn là cha đẻ của bách khoa toàn thư hiện đại với công trình 2 tập này.

Bản dịch sang tiếng Pháp công trình của Chambers đã trở thành nguồn cảm hứng cho việc ra đời bộ Encyclopédie có lẽ bởi đó là bộ bách khoa toàn thư nổi tiếng nhất, đáng nể về quy mô và về chất lượng của các bài viết, ảnh hưởng về mặt chính trị và văn hoá của bộ sách trong nhiều năm đã góp phần đưa đến cuộc Cách mạng Pháp 1789. Encyclopédie do 2 nhà triết học Pháp Jean le Rond d’Alembert (1717- 83) và Denis Diderot (1713- 84) chủ trì biên soạn và được in thành 17 tập xuất bản từ năm 1751 đến năm 1765; được in thành 11 tập có minh hoạ xuất bản từ năm 1762 đến năm 1772. Còn bản in thành 5 tập có phụ bản kèm theo 2 tập index thì được Denis Diderot, nhà văn kiêm chủ xuất bản, cho ra đời từ năm 1776 đến năm 1780. Encyclopédie thể hiện bản chất của Kỉ Ánh sáng Pháp. Bản cáo bạch đã nói lên một mục tiêu đầy tham vọng: “Encyclopédie là một sự phân tích một cách có hệ thống về “trật tự và các mối quan hệ bên trong của kiến thức nhân loại”. Diderot còn đi sâu hơn trong mục từ cùng tên do mình viết: “thu thập tất cả những kiến thức hiện đang nằm rải rác khắp trên bề mặt Trái đất, làm cho mọi người biết đến chúng bằng một cấu trúc chung, đồng thời truyền lại cho những người sẽ đến sau chúng ta”, không chỉ làm cho mọi người thông minh hơn, mà còn “tốt hơn và hạnh phúc hơn”.

Hiện thực hoá những vấn đề vốn có bằng mô hình kiến thức do mình sáng tạo ra, sự thành công trong giải pháp của Diderot khi làm bộ Encyclopédie đã vượt xa sự mong đợi. Ông hình dung bộ bách khoa thư một cách tổng thể hoàn chỉnh, chứ không phải là phép cộng của từng phần. Trong mục từ cùng tên “encyclopédie” do mình viết: “Đây là một bộ từ điển về khoa học và nghệ thuật theo phép phân tích, chứ không phải là một sự tổ hợp các thành tố của chúng theo thứ tự sắp xếp. Ông nhận thấy không thể dồn tất cả mọi kiến thức lại được trong một công trình, song ông hi vọng có thể đưa được vào đó các mối liên hệ giữa chúng.

Đến lượt mình, Encyclopédie lại trở thành nguồn cảm hứng cho bộ Encyclopaedia Britannica khởi đầu một cách khiêm tốn tại Scotland: Bản in lần đầu xuất bản vào năm 1768-1771, gồm 3 tập với 2.391 trang. Năm 1797, bản in lần thứ 3 đã mở rộng thành 18 tập với một số lượng lớn các chủ đề phân công cho từng tác giả iết.

Bộ Conversations-Lexikon 6 tập bằng tiếng Đức xuất bản ở Lepzig từ năm 1796 đến năm 1808. Cũng tương tự như các bộ bách khoa toàn thư thế kỉ 19 khác. quy mô của nó đã vượt quá các xuất bản phẩm trước đó về mặt cố gắng tiến đến tính tổng hợp. Song nó không có ý định sẽ được sử dụng một cách bác học, mà là cung cấp những thành quả nghiên cứu và khám phá dưới dạng đơn giản và phổ cập, không đi sâu vào chi tiết. Hình thức này, trái ngược lại với bộ Encyclopaedia Britannica, đã được các bộ bách khoa toàn thư vào cuối thế kỉ 19 ở Anh, Pháp, Mĩ, Tây Ban Nha, Italia và các quốc gia khác mô phỏng rộng rãi. Bằng sức ảnh hưởng tới những bộ bách khoa toàn thư ở cuối thế kỉ 18 và đầu thế kỉ 19, bộ Conversations-Lexikon có lẽ là gần gũi nhất về mặt hình thức với các bộ bách khoa toàn thư ngày nay.

Những năm đầu của thế kỉ 19 là giai đoạn nở rộ của các bộ bách khoa toàn thư được xuất bản ở Anh, Châu Âu và Mĩ. Bộ Rees’s Cyclopedia (1802-1819) ở Anh chứa đựng một lượng thông tin khổng lồ về các cuộc cách mạng công nghiệp và khoa học ở thời kì này.

Bộ Grand dictionnaire universel du XIXe siècle 17 tập kèm theo phụ bản được xuất bản ở Pháp từ năm 1866 đến năm 1890. Được truyền cảm hứng từ nhà chính trị học Ferdinand-Camille Dreyfus (1851-1915), bộ La Grande Encyclopesdie (1886-1902) của Pháp xuất hiện với một quyền uy lớn là một công trình tổng hợp, một nguồn tư liệu ở trình độ bác học uyên thâm, vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay.

Encyclopaedia Britannica được tái bản nhiều lần trong suốt thế kỉ 19. Sự phát triển của giáo dục phổ cập đã dẫn đến việc cho ra đời bộ Penny Cyclopedia (có nghĩa là “bách khoa toàn thư giá rẻ”) nhiều tập của Hội phổ biến kiến thức thường thức Anh do George Long (1800-79) chủ biên, xuất bản từ năm 1833 đến năm 1843, phát hành hàng tuần chỉ với giá 1 xu như một tờ báo.

Bộ bách khoa toàn thư lớn nhất của nước Mĩ là Encyclopedia Americana, do nhà kinh tế học Mĩ gốc Đức Francis Lieber (1800-72), một công trình sưu tập phong phú những mục từ gốc trong thư viện Mĩ về các lĩnh vực nghệ thuật, khoa học, văn học, lịch sử, chính trị và tiểu sử. Tuy được biên soạn dựa trên cơ sở của bộ Conversations-Lexikon tái bản lần thứ 7 của Đức, nhưng có bổ sung thêm những tư liệu nổi bật và được viết lại. Bộ New American Cyclopaedia là bộ bách khoa toàn thư mang tính phổ cập được xuất bản từ 1858 đến 1863, về sau đổi tên là American Cyclopaedia.

Ở Nga, loại sách công cụ mang tính bách khoa ra đời tương đối muộn. S. A. Sedivanovskij có ý định biên soạn bộ Enciklopedicheskij slovar’ 40-45 tập, với sự tham gia của Những người tháng Chạp. Nhưng bộ này chỉ ra mắt được có 3 tập vì bị cấm sau sự thất bại của cuộc Khởi nghĩa Tháng Chạp. Bộ Leksikon rossiskoj của V. N. Tatishchev được xuất bản một nửa năm 1793, sau đó là sự ra đời của bộ Spravochnyj enciklopedicheskij slovar’ (1847-55) theo mẫu bộ Brockhaus của Đức. Bộ bách khoa toàn thư thực thụ của Nga phải là bộ Enciklopedicheskij slovar’(1895), về sau nổi tiếng với tên Granat sau khi được Viện thư mục Nga Granat xuất bản.

4. Thế kỉ 20

Bộ Brockhaus được xuất bản ở Nga từ 1890 đến 1906 đánh dấu một sự thành công đầy ngoạn mục. Tiếp sau Granat, bộ bách khoa toàn thư quan trọng thứ hai ở Nga là Bol’shaja sovetskaja enciklopedja (xuất bản lần đầu 1926-47) 65 tập. Lần tái bản 2 dành riêng một tập về Liên Xô. Các tập niên giám kèm theo đạt tiêu chuẩn cao về nguồn tư liệu gốc. Từ năm 1973 đến 1983, Công ti Macmillan đã cho ra mắt bản dịch sang tiếng Anh lần tái bản thứ 3 của bộ này.

Ở Mĩ, bộ The New International Encyclopaedia xuất bản lần đầu năm 1902-04 đã có kèm thêm tập niên giám. Bộ Encyclopedia Americana đã có thêm sức sống mới vào năm 1902 khi chủ biên tạp chí Scientific Americana Frederick C. Beach được chỉ định làm chủ biên bộ Americana. Nó đã gặt hái thành công nhờ sự chỉnh sửa cập nhật liên tục và có kèm theo niên giám từ năm 1923 trở về trước. Bộ Collier’s Encyclopedia hoàn thiện năm 1950-51 với 20 tập, có thêm niên giám bắt đầu từ năm 1960. Collier’s được chú ý bởi một số lượng lớn tranh ảnh và bản đồ minh hoạ.

Tây Ban Nha có Enciclopedia universal ilustra da europeo-americana (1905-33) là một bộ bách khoa toàn thư đồ sộ, dành riêng 1 tập về Tây Ban Nha. Một bộ chính yếu khác nữa của Tây Ban Nha là Enciclopedia Labor (1955-60) được chú ý đến vì đã chia từng tập theo một lĩnh vực chủ đè chính, còn tập index thì cung cấp chìa khoá đi đến nội dung toàn bộ.

Một trong những bộ bách khoa toàn thư quan trọng nhất là Enciclopedia italiana di scienze, lettere ed arti (1929-39) của Italia, nổi tiếng bởi chi phí đắt, minh hoạ đẹp cùng độ dài, tính bác học, tư liệu đáng tin cậy của các mục từ.

Bất chấp việc tiếp tục giữ vững vị trí phổ biến của bộ Larousse, Pháp cho ra đời 3 bộ bách khoa toàn thư khác ghi dấu ấn trong thế kỉ 20. Bộ Encyclopédie française (1935-66) là một sự sưu tập đáng nể các chuyên khảo do các nhà bác học và chuyên gia nổi tiếng viết, sắp xếp theo hình thức phân loại. Các mục từ đều tập trung vào những vấn đề thời sự thuộc lĩnh vực đang xem xét. Encyclopesdie de la Pléiade (1955- ) là một serie bách khoa toàn thư, mỗi một bộ (đôi khi trên 1 tập) thường là một chủ đề rộng được viết theo thể trần thuật. Encyclopaedia Universalis (xuất bản lần đầu 1968-74), do Claude Grégory thuộc sở hữu của French Book Club và Encyclopaedia Britannica Inc., là một trong những bộ bách khoa toàn thư mới hấp dẫn nhất. Các mục nhỏ được xếp vào những chủ đề quan trọng lớn cùng những mục từ được minh hoạ đẹp.

Năm 1974, để đáp ứng nhu cầu của thời đại mới, bộ Encyclopaedia Britannica 32 tập ở lần xuất bản thứ 15 (năm 1985) đã từ bỏ phương pháp biên soạn truyền thống (theo mục từ lớn – article) mà cấu trúc bộ sách thành 3 bộ phận lớn (được coi là sự thay đổi mang tính cách mạng): 1) Phân loại tri thức bách khoa (Propaedia) 1 tập; 2) Bách khoa giản minh (Micropaedia) 10 tập; 3) Bách khoa tường minh (Macropaedia) 19 tập. Hai tập Index hoà trộn cả MicropaediaMacropaedia. Bộ sách được sắp xếp theo chủ đề tri thức, dựa trên quá trình phát triển tự nhiên của khoa học và mối quan hệ logic chặt chẽ giữa các chủ đề. 10 lĩnh vực tri thức đồng thời cũng là 10 phần được giới thiệu trong Propaedia một cách toàn diện, có hệ thống với kết cấu khoa học chặt chẽ, bao quát toàn bộ tri thức của nhân loại từ xưa đến nay. Đó là: vật chất và năng lượng, Trái đất, sự sống trên Trái đất; cuộc sống loài người, xã hội loài người; nghệ thuật, kĩ thuật, tôn giáo, lịch sử nhân loại; các ngành tri thức.

The Encyclopedia Americana 30 tập là bộ bách khoa toàn thư tổng hợp lớn thứ hai bằng tiếng Anh của Mĩ (tiếp sau bộ The Encyclopedia Britanica). Giống như tên gọi, bộ bách khoa toàn thư này từ ban đầu được dự định làm ở Mĩ và nhắm vào thị trường Bắc Mĩ. Được Công ti Grolier Educational xuất bản năm 2002. Tổng biên tập: Mark Cummings. Tập cuối (tập 30) chính là phần Index với 350.000 đề mục. Đưa ra sự chỉ dẫn đầy đủ về các nội dung nằm trong bộ bách khoa toàn thư này. Bộ bách khoa toàn thư này nhằm phục vụ cho học sinh các trường trung học, cao đẳng. Hàng chục nghìn mục từ lớn (article) trong The Encyclopedia Americana chính là chiếc cầu nối thế giới giữa các nhà khoa học với các độc giả thông thường.

Collier’s Encyclopaedia (tên đầy đủ: Collier’s Encyclopedia With Bibliography and Index) là bộ bách khoa toàn thư tổng hợp của Mĩ, được Công ti Macmillan Educational Company xuất bản năm 1987. Tổng biên tập: Bernard Johnston. Gồm 24 tập, trình bày một cách khoa học, hệ thống, theo chuỗi liên tục các kiến thức thuộc những gì nổi bật nhất của loài người. Các thư mục nằm ở tập cuối cùng, chứ không phải ở cuối mỗi mục từ lớn, bao gồm 11.500 đề mục được gộp lại từ các chủ đề lớn, rồi phân chia nhỏ thành nhiều chủ đề riêng biệt. Trong tập cuối còn có cả phần Index với 400.000 đề mục. Lâu nay, cùng với các bộ Encyclopedia AmericanaEncyclopaedia Britannica, được coi là một trong 3 bộ bách khoa toàn thư tổng hợp cơ bản đương thời bằng tiếng Anh. Đôi khi 3 bộ này được gộp lại, gọi chung là “the ABCs”.

Trung Quốc, Nhật Bản cũng giống như Tây Ban Nha và Italia là phải đến thế kỉ 20 mới bắt đầu xuất hiện các sách công cụ mang tính bách khoa theo kiểu hiện đại. Từ nguyên (xuất bản năm 1915) và Từ hải (xuất bản năm 1936) của Trung Quốc đều là những bộ từ thư mang tính bách khoa. Nihon-hyakka-daijiten (1908-19) 10 tập là bộ sách công cụ thoạt nhìn có vẻ giống với bách khoa toàn thư hiện đại, nhưng hầu hết lại được biên soạn dưới dạng các công trình khoa học.

Trung Quốc đại bách khoa toàn thư là bộ bách khoa toàn thư tổng hợp cỡ lớn đầu tiên của Trung Quốc. Được Quốc vụ viện Trung Quốc quyết định cho biên tập xuất bản vào năm 1978, đồng thời cho thành lập Nhà xuất bản Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc để phụ trách công việc này. Gồm 80 phân quyển, mỗi quyển khoảng 1,2 – 1,5 triệu chữ (kể cả hình vẽ, phụ lục), dung lượng tương đương với các bộ bách khoa toàn thư được xuất bản sớm nhất ở các nước. Các phân quyển được chia theo tên từng ngành khoa học, không xếp theo thứ tự quyển, như “Triết học”, “Luật học”, “Cơ học”, “Toán học”, “Vật lí học”, “Hoá học”, “Thiên văn học”... Nội dung mỗi ngành khoa học được sắp xếp theo hệ thống, tầng cấp của ngành ấy, đồng thời được biên soạn dưới hình thức các mục từ (khoảng 100.000 mục từ), cung cấp cho độc giả một chiếc cầu nối và một nấc thang để đi vào và tiến sâu, tiến rộng vào các ngành khoa học.

Kodansha Encyclopedia of Japan là bộ bách khoa toàn thư 9 tập của Nhật Bản
hợp tác giữa Tôkyô, Cambridge và Massachusetts, được viết bằng tiếng Anh, do Công ti Kodansha Ltd. xuất bản năm 1983. Tổng biên tập: Gen Itasaka. Ban biên tập: 25 người Nhật và 110 người nước ngoài. Khoảng 40% mục từ do người Nhật viết; 60% mục từ do học giả các nước khác viết. Gồm 8 tập nội dung được phân chia thành 123 chủ đề chính thuộc 37 lĩnh vực kiến thức như lịch sử, văn học, nghệ thuật, tôn giáo, kinh tế, địa lí, khoa học, công nghệ, luật pháp, phụ nữ, văn hoá dân gian, đời sống động thực vật, ẩm thực, may mặc, thể thao và giải trí...; 1 tập Index có cả phần tiếng Nhật. Sự xuất hiện của bộ từ điển này là tượng trưng cho vị trí quan trọng của nước Nhật đã giành được trên trường quốc tế.

Cuối thế kỉ 20 đánh dấu sự ra đời của loại hình bách khoa toàn thư điện tử trên đĩa CD-ROM (như Canadian Encyclopedia – 1996; Encarta Africana - 1999), DVD (như Encarta - 1997) hoặc trực tuyến (như phiên bản trực tuyến của các bộ Compton’s Encyclopedia, Encyclopaedia Britannica). So với bản in giấy, phiên bản điện tử có nhiều ưu điểm nổi trội như: Lưu trữ (theo kiểu siêu văn bản) được một lượng thông tin cực lớn với chi phí cực rẻ; khả năng tra cứu, tìm kiếm mục từ hay chủ đề dễ dàng và nhanh chóng; khả năng thông tin đa phương tiện (multimedia).

5. Thế kỉ 21

Bước vào thế kỉ 21, chúng ta được làm quen với một loại hình bách khoa toàn thư hết sức mới mẻ: Bách khoa toàn thư mở (free encyclopedia).

Khái niệm bách khoa toàn thư mở được khởi đầu từ đề nghị về loại hình bách khoa toàn thư mạng (interpedia) của Hệ thống thảo luận trên internet phân phối toàn cầu (USENET), mà bất kì ai cũng có thể truy nhập miễn phí và có thể chỉnh sửa nội dung.

Wikipedia là một dự án bách khoa toàn thư đa phương tiện mở phi lợi nhuận được xây dựng trên trang web của Wikimedia Foundation. Wiki theo tiếng Haoai có nghĩa là “nhanh”, còn pedia là “encyclopedia”. 14 triệu mục từ (3,1 triệu mục từ bằng tiếng Anh) đã được viết ra bởi sự hợp tác giữa các tình nguyện viên (volunteer) trên khắp thế giới, đồng thời hầu hết các mục từ đều có thể được biên tập bởi bất kì ai truy nhập vào trang web này. Được Jimmy Wales, doanh nhân Internet Mĩ, và Larry Sanger, nhà triết học Mĩ, đồng sáng lập vào năm 2001. Các mục từ cung cấp các đường kết nối (link) đến những trang tương ứng, được hợp tác biên soạn bởi một nhóm tình nguyện viên quốc tế. Bất cứ ai truy nhập cũng có thể viết và chỉnh sửa các mục từ, không bắt buộc phải khai tên thật. Wikipedia phát triển hết sức nhanh chóng và trở thành một trong những trang web tham khảo lớn nhất thế giới, thu hút 65 triệu lượt người truy nhập mỗi tháng ở năm 2009. Có tới hơn 85.000 cộng tác viên làm việc thường xuyên với 14 triệu mục từ bằng trên 260 ngôn ngữ khác nhau. Người truy nhập không cần phải có những đóng góp ở cấp độ chuyên gia, bởi Wikipedia chỉ có ý định biên soạn những mục từ bao quát những kiến thức hiện có, chứ không phải là tạo ra những kiến thức mới. Điều đó có nghĩa là tất cả mọi người thuộc mọi độ tuổi và mọi nền văn hoá, nền tảng xã hội khác nhau đều có thể viết cho Wikipedia, với điều kiện là tuân theo chính sách biên tập của Wikipedia. Người sử dụng không phải băn khoăn lo lắng gì với Wikipedia khi bổ sung hoặc nâng cấp các thông tin, bởi vì các biên tập viên luôn “có mặt” để tư vấn hoặc chỉnh sửa những sai sót hiển nhiên, đồng thời phần mềm Wikipedia đã được thiết kế cho phép biên tập lật ngược được một cách dễ dàng.

THƯ MỤC THAM KHẢO

[1] The New Encyclopedia Britannica, Encyclopedia Britannica Inc.,1998.

[2] The Encyclopedia Americana, Grolier Educational, 2002.

[3] Collier’s Encyclopaedia, Macmillan Educational Company, 1987.

[4] Kodansha Encyclopedia of Japan, Kodansha Ltd., 1983.

[5] 中国大百科全书, 中国大百科全书出版社, 1978.

[6] Большая Советская Энциклопедия (БСЭ), http://bse.sci-lib.com.

[7] Encyclopedia, http://en.wikipedia.org/wiki/Encyclopedia.

[8] Japaneseencyclopedias, http://en.wikipedia.org/wiki/Japanese_encyclopedias

[9] Chineseencyclopedia, http://en.wikipedia.org/wiki/Chinese_encyclopedia

[10] Encarta, http://en.wikipedia.org/wiki/Encarta.

[11] Wikipedia: About, http://en.wikipedia.org/wiki/Wikipedia: About.

[12] 百科全书编纂该轮, 金常政, 山西人民出版社, 1984.

[13] Hà Học Trạc, Lịch sử, lí luận và thực tiễn biên soạn bách khoa toàn thư, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2004.

 SUMMARY

The author gives a brief description of the birth and development of Encyclopedias since the origin (in China, Greece, and Ancient Roman) up to the present. According to the author, Encyclopedias have undergone such periods as the Middle Ages, 17th – 19th centuries, 20th century, 21st century, each of which bearing the hallmark of certain development in form, contents and quality of compiling, printing.



Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư số 02, năm 2010